Một dự án BĐS được thế chấp để vay vốn ngân hàng, sau đó lại được ngân hàng cho vay để khách hàng mua các căn hộ của chính dự án đó. Như vậy, rủi ro từ việc cho vay thế chấp tài sản là dự án BĐS sẽ rất lớn, bởi ngân hàng đã hai lần giải ngân cho hai khoản vay khác nhau mà chỉ có một tài sản bảo đảm.
Một dự án, thế chấp nhiều lần
![]() |
| Do không tìm hiểu kỹ thông tin, nhiều khách hàng không biết được rằng mình đang mua dự án đã được chủ đầu tư thế chấp tại ngân hàng. Ảnh chỉ mang tính minh họa |
Đối với các dự án tòa nhà văn phòng, khu căn hộ…, dù chủ đầu tư có chuẩn bị vốn lớn đến đâu, thì vẫn phải phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn. Xét cho cùng, tăng trưởng của quốc gia nhờ một phần quan trọng của tăng trưởng dư nợ tín dụng, mà phần tăng trưởng dư nợ tín dụng thường gắn chặt với tăng trưởng bất động sản.
Vấn đề là khi tài trợ cho các dự án bất động sản, rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt là gì? Trong các trường hợp cho vay này, tài sản bảo đảm bên đi vay đưa vào thế chấp chính là tài sản được hình thành bởi nguồn vốn vay: bất động sản từ dự án. Đây là phần chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng và của cả nền kinh tế. Tài sản bảo đảm đó có thể là chính công trình, tòa nhà hình thành trong tương lai và được định giá theo cơ cấu vốn đầu tư: tổng tài sản, dự toán vốn đầu tư, dự toán khai thác...
Kinh doanh bất động sản dự án thường nhắm vào các tòa nhà văn phòng, căn hộ và hướng tới mục tiêu bán hoặc cho thuê. Nhiều trường hợp chủ đầu tư đề nghị ngân hàng hỗ trợ khâu bán hàng thông qua quy trình khép kín là ngân hàng phối hợp cho vay mua sản phẩm bất động sản của chủ đầu tư dự án bằng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng cho vay mua nhà. Trong trường hợp này, ngân hàng cho khách hàng vay tiền để mua căn hộ và tài sản bảo đảm là chính căn hộ. Như vậy, một tài sản nhưng lại được chủ đầu tư và người vay mua nhà cùng thế chấp.
Chưa kể, có trường hợp, nhà cung cấp và nhà thầu lại thế chấp các tài sản là vật tư, hàng hóa lưu động như xi măng, sắt thép, thang máy… và nguồn trả nợ chính là thu bán hàng từ dự án. Khi người vay không có khả năng thanh toán, ngân hàng tiến hành xiết nợ, xử lý tài sản thế chấp là vật tư, hàng hóa. Nhưng khi thế chấp dự án, toàn bộ vật tư, hàng hóa đã được tính toán hình thành nên giá trị của dự án trong lần thế chấp trước đó. Tính ra, cùng một tài sản bảo đảm mà giá trị cho vay dựa trên tài sản đảm bảo đã được nhân lên gấp 2, gấp 3 lần.
Thực tế ghi nhận, có ngân hàng nhận được đề nghị cho vay đối với một dự án căn hộ, có dự toán hàng trăm tỷ đồng. Thủ tục pháp lý của dự án đã hoàn tất, chủ đầu tư đã có giấy phép xây dựng và Ngân hàng đã cho vay với tài sản bảo đảm là toàn bộ dự án đó. Sau khi được giải ngân, chủ dự án lại bán căn hộ dưới dạng góp vốn đầu tư. Những người góp vốn đầu tư cũng là chủ sở hữu một phần của Dự án.
Khi phát hiện ra điều này, Ngân hàng đã dừng giải ngân và tiến hành thu hồi nợ trước hạn thì vướng mắc về sở hữu, dẫn đến tài sản bảo đảm của Ngân hàng không còn. Ngân hàng đối mặt với tranh chấp mới, tranh chấp với các chủ nợ khác, trong đó, có những người góp vốn với chủ đầu tư để sở hữu bất động sản.
Đối với bất động sản, khi thế chấp, ngân hàng phải đăng ký tại văn phòng đăng ký nhà đất các cấp. Tuy nhiên, do dự án là tài sản hình thành trong tương lai, một dạng quyền tài sản nên văn phòng đăng ký nhà đất sẽ không cho đăng ký. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng sẽ không được ưu tiên xử lý thu hồi nợ.
Đối với việc cho vay dự án, rủi ro khác mà ngân hàng gặp phải là nguy cơ dự án bị mua đi bán lại nhiều. Về nguyên tắc, pháp luật chỉ cho phép chuyển nhượng dự án khi đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nhưng trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp có đất nhưng không có tiềm lực kinh tế để triển khai dự án vẫn “lách luật” bằng nhiều cách để chuyển nhượng dự án cho chủ đầu tư thứ cấp. Khi này, nếu chủ đầu tư thứ cấp đứng ra vay vốn ngân hàng và không trả được nợ thì ngân hàng rất khó xử lý tài sản bảo đảm, bởi chủ đầu tư thứ cấp không có đầy đủ quyền năng pháp lý đối với dự án.
Ngoài ra, còn hàng loạt rủi ro khác như dự án bị rút giấy phép, không thể triển khai hoặc là thu hẹp diện tích. Thậm chí, dự án đã triển khai nhưng có rủi ro như công trình sai phép, công trình không đảm bảo chất lượng, xảy cháy mà không có bảo hiểm.
Khi cho vay mua căn hộ, ngân hàng phải thỏa thuận với chủ đầu tư, kiểm soát tiến độ thực hiện và thanh toán của dự án. Khi chủ đầu tư bàn giao sổ đỏ, căn hộ, ngân hàng phải tham gia. Bởi lẽ, với các dự án bất động sản căn hộ, văn phòng để bán, thì khi chủ đầu tư bàn giao cho khách hàng, tài sản đảm bảo của chủ đầu tư lúc này sẽ trở về số 0. Ngân hàng chỉ có thể quản lý được nguồn thu khi bán căn hộ, nếu không làm chặt thì tài sản bảo đảm sẽ không còn.
Như vậy tính chất dự án, tư cách chủ đầu tư, sự khả thi của dự án mới là yếu tố quan trọng nhất của bất động sản đảm bảo để ngân hàng xem xét cho vay. Bởi thực tế, bất động sản dự án chỉ là một dạng quyền tài sản.
Vấn đề là khi tài trợ cho các dự án bất động sản, rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt là gì? Trong các trường hợp cho vay này, tài sản bảo đảm bên đi vay đưa vào thế chấp chính là tài sản được hình thành bởi nguồn vốn vay: bất động sản từ dự án. Đây là phần chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng và của cả nền kinh tế. Tài sản bảo đảm đó có thể là chính công trình, tòa nhà hình thành trong tương lai và được định giá theo cơ cấu vốn đầu tư: tổng tài sản, dự toán vốn đầu tư, dự toán khai thác...
Kinh doanh bất động sản dự án thường nhắm vào các tòa nhà văn phòng, căn hộ và hướng tới mục tiêu bán hoặc cho thuê. Nhiều trường hợp chủ đầu tư đề nghị ngân hàng hỗ trợ khâu bán hàng thông qua quy trình khép kín là ngân hàng phối hợp cho vay mua sản phẩm bất động sản của chủ đầu tư dự án bằng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng cho vay mua nhà. Trong trường hợp này, ngân hàng cho khách hàng vay tiền để mua căn hộ và tài sản bảo đảm là chính căn hộ. Như vậy, một tài sản nhưng lại được chủ đầu tư và người vay mua nhà cùng thế chấp.
Chưa kể, có trường hợp, nhà cung cấp và nhà thầu lại thế chấp các tài sản là vật tư, hàng hóa lưu động như xi măng, sắt thép, thang máy… và nguồn trả nợ chính là thu bán hàng từ dự án. Khi người vay không có khả năng thanh toán, ngân hàng tiến hành xiết nợ, xử lý tài sản thế chấp là vật tư, hàng hóa. Nhưng khi thế chấp dự án, toàn bộ vật tư, hàng hóa đã được tính toán hình thành nên giá trị của dự án trong lần thế chấp trước đó. Tính ra, cùng một tài sản bảo đảm mà giá trị cho vay dựa trên tài sản đảm bảo đã được nhân lên gấp 2, gấp 3 lần.
Thực tế ghi nhận, có ngân hàng nhận được đề nghị cho vay đối với một dự án căn hộ, có dự toán hàng trăm tỷ đồng. Thủ tục pháp lý của dự án đã hoàn tất, chủ đầu tư đã có giấy phép xây dựng và Ngân hàng đã cho vay với tài sản bảo đảm là toàn bộ dự án đó. Sau khi được giải ngân, chủ dự án lại bán căn hộ dưới dạng góp vốn đầu tư. Những người góp vốn đầu tư cũng là chủ sở hữu một phần của Dự án.
Khi phát hiện ra điều này, Ngân hàng đã dừng giải ngân và tiến hành thu hồi nợ trước hạn thì vướng mắc về sở hữu, dẫn đến tài sản bảo đảm của Ngân hàng không còn. Ngân hàng đối mặt với tranh chấp mới, tranh chấp với các chủ nợ khác, trong đó, có những người góp vốn với chủ đầu tư để sở hữu bất động sản.
Nhiều rủi ro khác cho ngân hàng
Như vậy, khi tài sản bị đem đi thế chấp nhiều nơi, ngân hàng nhận thế chấp dự án đứng trước nguy cơ mất trắng, nếu không bám sát chủ đầu tư, bởi việc thế chấp dự án không được đăng ký giao dịch đảm bảo.Đối với bất động sản, khi thế chấp, ngân hàng phải đăng ký tại văn phòng đăng ký nhà đất các cấp. Tuy nhiên, do dự án là tài sản hình thành trong tương lai, một dạng quyền tài sản nên văn phòng đăng ký nhà đất sẽ không cho đăng ký. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng sẽ không được ưu tiên xử lý thu hồi nợ.
Đối với việc cho vay dự án, rủi ro khác mà ngân hàng gặp phải là nguy cơ dự án bị mua đi bán lại nhiều. Về nguyên tắc, pháp luật chỉ cho phép chuyển nhượng dự án khi đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nhưng trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp có đất nhưng không có tiềm lực kinh tế để triển khai dự án vẫn “lách luật” bằng nhiều cách để chuyển nhượng dự án cho chủ đầu tư thứ cấp. Khi này, nếu chủ đầu tư thứ cấp đứng ra vay vốn ngân hàng và không trả được nợ thì ngân hàng rất khó xử lý tài sản bảo đảm, bởi chủ đầu tư thứ cấp không có đầy đủ quyền năng pháp lý đối với dự án.
Ngoài ra, còn hàng loạt rủi ro khác như dự án bị rút giấy phép, không thể triển khai hoặc là thu hẹp diện tích. Thậm chí, dự án đã triển khai nhưng có rủi ro như công trình sai phép, công trình không đảm bảo chất lượng, xảy cháy mà không có bảo hiểm.
Ngừa rủi ro tài sản thế chấp, cách nào?
Những ngân hàng có quy trình chặt chẽ sẽ đưa vào hợp đồng tín dụng những thỏa thuận để quản lý, giám sát tài sản bảo đảm, để nếu phát sinh vấn đề, sẽ thu hồi nợ trước hạn. Tức là, thỏa thuận mọi giao dịch, cam kết liên quan đến dự án với bên thứ ba phải được ngân hàng chấp thuận.Khi cho vay mua căn hộ, ngân hàng phải thỏa thuận với chủ đầu tư, kiểm soát tiến độ thực hiện và thanh toán của dự án. Khi chủ đầu tư bàn giao sổ đỏ, căn hộ, ngân hàng phải tham gia. Bởi lẽ, với các dự án bất động sản căn hộ, văn phòng để bán, thì khi chủ đầu tư bàn giao cho khách hàng, tài sản đảm bảo của chủ đầu tư lúc này sẽ trở về số 0. Ngân hàng chỉ có thể quản lý được nguồn thu khi bán căn hộ, nếu không làm chặt thì tài sản bảo đảm sẽ không còn.
Như vậy tính chất dự án, tư cách chủ đầu tư, sự khả thi của dự án mới là yếu tố quan trọng nhất của bất động sản đảm bảo để ngân hàng xem xét cho vay. Bởi thực tế, bất động sản dự án chỉ là một dạng quyền tài sản.
Luật sư Trương Thanh Đức
Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Maritime Bank - ĐTCK
Theo Vietnamnet
Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Maritime Bank - ĐTCK
Theo Vietnamnet
Một dự án bất động sản được thế chấp để vay vốn ngân hàng, sau đó lại được ngân hàng cho vay để khách hàng mua các căn hộ của chính dự án đó.
Như vậy, rủi ro từ việc cho vay thế chấp tài sản là dự án bất động sản sẽ rất lớn, bởi ngân hàng đã hai lần giải ngân cho hai khoản vay khác nhau mà chỉ có một tài sản bảo đảm.
Một dự án, thế chấp nhiều lần
Đối với các dự án tòa nhà văn phòng, khu căn hộ..., dù chủ đầu tư có chuẩn bị vốn lớn đến đâu, thì vẫn phải phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn. Xét cho cùng, tăng trưởng của quốc gia nhờ một phần quan trọng của tăng trưởng dư nợ tín dụng, mà phần tăng trưởng dư nợ tín dụng thường gắn chặt với tăng trưởng bất động sản.
Vấn đề là khi tài trợ cho các dự án bất động sản, rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt là gì? Trong các trường hợp cho vay này, tài sản bảo đảm bên đi vay đưa vào thế chấp chính là tài sản được hình thành bởi nguồn vốn vay: bất động sản từ dự án. Đây là phần chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng và của cả nền kinh tế. Tài sản bảo đảm đó có thể là chính công trình, tòa nhà hình thành trong tương lai và được định giá theo cơ cấu vốn đầu tư: tổng tài sản, dự toán vốn đầu tư, dự toán khai thác...
Kinh doanh bất động sản dự án thường nhắm vào các tòa nhà văn phòng, căn hộ và hướng tới mục tiêu bán hoặc cho thuê. Nhiều trường hợp chủ đầu tư đề nghị ngân hàng hỗ trợ khâu bán hàng thông qua quy trình khép kín là ngân hàng phối hợp cho vay mua sản phẩm bất động sản của chủ đầu tư dự án bằng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng cho vay mua nhà. Trong trường hợp này, ngân hàng cho khách hàng vay tiền để mua căn hộ và tài sản bảo đảm là chính căn hộ. Như vậy, một tài sản nhưng lại được chủ đầu tư và người vay mua nhà cùng thế chấp.
Chưa kể, có trường hợp, nhà cung cấp và nhà thầu lại thế chấp các tài sản là vật tư, hàng hóa lưu động như xi măng, sắt thép, thang máy... và nguồn trả nợ chính là thu bán hàng từ dự án. Khi người vay không có khả năng thanh toán, ngân hàng tiến hành xiết nợ, xử lý tài sản thế chấp là vật tư, hàng hóa. Nhưng khi thế chấp dự án, toàn bộ vật tư, hàng hóa đã được tính toán hình thành nên giá trị của dự án trong lần thế chấp trước đó. Tính ra, cùng một tài sản bảo đảm mà giá trị cho vay dựa trên tài sản đảm bảo đã được nhân lên gấp 2, gấp 3 lần.
Thực tế ghi nhận, có ngân hàng nhận được đề nghị cho vay đối với một dự án căn hộ, có dự toán hàng trăm tỷ đồng. Thủ tục pháp lý của dự án đã hoàn tất, chủ đầu tư đã có giấy phép xây dựng và Ngân hàng đã cho vay với tài sản bảo đảm là toàn bộ dự án đó. Sau khi được giải ngân, chủ dự án lại bán căn hộ dưới dạng góp vốn đầu tư. Những người góp vốn đầu tư cũng là chủ sở hữu một phần của Dự án.
Khi phát hiện ra điều này, Ngân hàng đã dừng giải ngân và tiến hành thu hồi nợ trước hạn thì vướng mắc về sở hữu, dẫn đến tài sản bảo đảm của Ngân hàng không còn. Ngân hàng đối mặt với tranh chấp mới, tranh chấp với các chủ nợ khác, trong đó, có những người góp vốn với chủ đầu tư để sở hữu bất động sản.
Nhiều rủi ro khác cho ngân hàng
Như vậy, khi tài sản bị đem đi thế chấp nhiều nơi, ngân hàng nhận thế chấp dự án đứng trước nguy cơ mất trắng, nếu không bám sát chủ đầu tư, bởi việc thế chấp dự án không được đăng ký giao dịch đảm bảo. Đối với bất động sản, khi thế chấp, ngân hàng phải đăng ký tại văn phòng đăng ký nhà đất các cấp. Tuy nhiên, do dự án là tài sản hình thành trong tương lai, một dạng quyền tài sản nên văn phòng đăng ký nhà đất sẽ không cho đăng ký. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng sẽ không được ưu tiên xử lý thu hồi nợ.
Đối với việc cho vay dự án, rủi ro khác mà ngân hàng gặp phải là nguy cơ dự án bị mua đi bán lại nhiều. Về nguyên tắc, pháp luật chỉ cho phép chuyển nhượng dự án khi đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nhưng trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp có đất nhưng không có tiềm lực kinh tế để triển khai dự án vẫn "lách luật" bằng nhiều cách để chuyển nhượng dự án cho chủ đầu tư thứ cấp. Khi này, nếu chủ đầu tư thứ cấp đứng ra vay vốn ngân hàng và không trả được nợ thì ngân hàng rất khó xử lý tài sản bảo đảm, bởi chủ đầu tư thứ cấp không có đầy đủ quyền năng pháp lý đối với dự án.
Ngoài ra, còn hàng loạt rủi ro khác như dự án bị rút giấy phép, không thể triển khai hoặc là thu hẹp diện tích. Thậm chí, dự án đã triển khai nhưng có rủi ro như công trình sai phép, công trình không đảm bảo chất lượng, xảy cháy mà không có bảo hiểm.
Ngừa rủi ro tài sản thế chấp, cách nào?
Những ngân hàng có quy trình chặt chẽ sẽ đưa vào hợp đồng tín dụng những thỏa thuận để quản lý, giám sát tài sản bảo đảm, để nếu phát sinh vấn đề, sẽ thu hồi nợ trước hạn. Tức là, thỏa thuận mọi giao dịch, cam kết liên quan đến dự án với bên thứ ba phải được ngân hàng chấp thuận.
Khi cho vay mua căn hộ, ngân hàng phải thỏa thuận với chủ đầu tư, kiểm soát tiến độ thực hiện và thanh toán của dự án. Khi chủ đầu tư bàn giao sổ đỏ, căn hộ, ngân hàng phải tham gia. Bởi lẽ, với các dự án bất động sản căn hộ, văn phòng để bán, thì khi chủ đầu tư bàn giao cho khách hàng, tài sản đảm bảo của chủ đầu tư lúc này sẽ trở về số 0. Ngân hàng chỉ có thể quản lý được nguồn thu khi bán căn hộ, nếu không làm chặt thì tài sản bảo đảm sẽ không còn.
Có thể nói, tính chất dự án, tư cách chủ đầu tư, sự khả thi của dự án mới là yếu tố quan trọng nhất của bất động sản đảm bảo để ngân hàng xem xét cho vay. Bởi thực tế, bất động sản dự án chỉ là một dạng quyền tài sản.
Theo ĐTCK
Hàng loạt dự án nhà thu nhập thấp (NTNT), kể cả của các "ông lớn" như Vinaconex, HUD, Viglacera, đều đề xuất được vay vốn ưu đãi để triển khai. Trong khi đó, NTNT ở nhiều dự án,"ế" không bán được.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng Hà Nội, dự án NTNT CT02 khu tái định cư Kiến Hưng (Hà Đông) do Vinaconex Xuân Mai làm chủ đầu tư đã thi công cả 3 tòa nhà. Quy mô 864 căn (84.000m2 sàn), tổng mức đầu tư 565 tỷ đồng. Công ty đã ký hợp đồng mua bán hết 864 căn với khách hàng. Để bảo đảm tiến độ dự án, chủ đầu tư đề xuất vay vốn năm 2012 khoảng 300 tỷ đồng. Dự án NTNT ô CT3, CT4 khu đô thị (KĐT) Kim Chung (Đông Anh) do Tổng Công ty Handico làm chủ đầu tư, dự kiến sẽ khởi công cuối năm 2012, tổng mức đầu tư 1.400 tỷ đồng, diện tích sàn xây dựng 140.000m2. Chủ đầu tư đang GPMB cũng kiến nghị nhu cầu vay vốn năm 2012 là 30 tỷ đồng. Tương tự, dự án NTNT lô đất NO10A và NO12-3 KĐT Sài Đồng do Công ty CP Xây dựng số 3 Hà Nội đã khởi công, xây dựng, với quy mô 420 căn, đề xuất vay vốn 100 tỷ đồng/tổng mức đầu tư 336 tỷ đồng. Trong khi, dự án trên lô đất NO11A và NO12-2 do Công ty CP Đầu tư phát triển nhà Hà Nội số 5 làm chủ đầu tư đề xuất vay 180 tỷ đồng vốn năm 2012 tổng mức đầu tư 310 tỷ đồng. Kể cả các "ông lớn" như HUD, Viglacera cũng không ngoại lệ, chẳng hạn dự án Thanh Lâm - Đại Thịnh 2 (Mê Linh) có quy mô 1.456 căn, tổng mức đầu tư 811 tỷ đồng, HUD đề xuất vay vốn năm 2012 là 100 tỷ đồng, đồng thời cho điều chỉnh công năng, phương án kiến trúc để bảo đảm hiệu quả kinh tế. Dự án tại lô đất NO5B và NO10B-KĐT Đặng Xá (Gia Lâm), dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2012, chủ đầu tư Viglacera đề xuất vay 100 tỷ đồng...
Không chỉ có nhu cầu về vốn, một số dự án đang đứng trước tình trạng ế ẩm. Dự án Đặng Xá của Viglacera có quy mô 946 căn, sau nhiều lần thông báo, chủ đầu tư đã tiếp nhận 1.076 hồ sơ mua nhà hợp lệ, tuy nhiên mới ký hợp đồng mua bán 650 căn hộ với khách hàng. Dự án Sài Đồng của Công ty CP Đầu tư phát triển nhà Hà Nội số 5 có 420 căn, song đến thời điểm này mới ký hợp đồng 314 căn. Dự án Sài Đồng do Công ty CP Xây dựng số 3 làm chủ đầu tư có 420 căn, mới ký hợp đồng mua bán 280 căn. Số lượng căn hộ chưa ký hợp đồng mua bán, Sở Xây dựng Hà Nội đã đề xuất TP chấp thuận giới thiệu Bộ Công an hướng dẫn cán bộ, chiến sỹ đủ tiêu chuẩn mua nhà thu nhập thấp đăng ký.
Về việc đầu tư xây dựng NTNT, nhà xã hội, bà Tô Thị Hạnh, Giám đốc Quỹ Đầu tư phát triển TP Hà Nội ví đây là loại hình đầu tư tiền chẵn thu về tiền lẻ. Vì vậy, nếu không có sự hỗ trợ mạnh của Nhà nước, nhà đầu tư sẽ dè dặt. Về góc độ Quỹ Đầu tư, bà Hạnh cho rằng, vấn đề không phải là khách hàng vay nhiều hay ít mà là nguồn chi trả như thế nào. Một số dự án làm ra không bán hay cho thuê được, "thậm chí 10% định mức lợi nhuận cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Văn Khôi lại đặt vấn đề, tại sao dự án nào chủ đầu tư cũng đề nghị vay vốn. Có nơi như dự án Đại Mỗ (Từ Liêm) của Viglacera, tổng mức đầu tư có 96 tỷ đồng, chủ đầu tư đề xuất vay tới 58 tỷ đồng. Sở Xây dựng phải xem xét năng lực của nhà đầu tư, cân đối trên cơ sở quy định nhà đầu tư phải có 20% vốn, rồi thời điểm được bán nhà, huy động vốn của khách hàng. Nếu nhà đầu tư chỉ có máy móc, thiết bị, dự án triển khai được hay không phụ thuộc vào vốn vay thì mất hết cả ý nghĩa của dự án...
Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, không có nhà đầu tư nào đăng ký xây dựng quỹ nhà ở cho thuê, thuê mua do không có nguồn vốn ưu đãi, dài hạn và có nhiều rủi ro vì quá trình thu hồi vốn kéo dài. Trong khi giá NTNT, tiến độ đóng tiền dự án đang vượt quá khả năng chi trả của đối tượng thu nhập thập do chưa có chính sách tài chính hỗ trợ người mua và chưa có tiêu chuẩn chung cho NTNT. Vì vậy, Sở Xây dựng đề xuất tìm nguồn vốn vay ưu đãi, dài hạn; bố trí nguồn vốn ngân sách phát triển quỹ nhà cho thuê, hoặc có cơ chế chính sách hỗ trợ nhà đầu tư loại hình nhà ở này.
Hà Nội Mới




