Hỏi: Gia đình tôi có tám người, gồm bố mẹ và sáu người con. Năm 1989 cơ quan bố tôi cấp cho ông căn nhà thuộc sở hữu nhà nước để ở. Năm 1997 bố tôi qua đời, không để lại di chúc. Mẹ tôi và một người con trai vẫn tiếp tục ở trong căn nhà tới nay.
Hiện hộ khẩu nhà tôi gồm mẹ tôi (chủ hộ), một người con trai và hai người con gái (có tên trong hộ khẩu, nhưng thực tế hai người này đã tạm trú dài hạn tại Tp.HCM từ năm 1996 và đã đi nước ngoài sinh sống).
Năm 2010 Nhà nước cho làm thủ tục thanh lý nhà theo nghị định 61/CP. Cơ quan nơi bố tôi làm việc có quyết định gửi công ty kinh doanh nhà của thành phố chỉ định người đứng tên mua nhà là mẹ tôi. Nhưng 4 người con của mẹ tôi (không có tên trong hộ khẩu) có đơn gửi UBND phường và tất cả các cơ quan có thẩm quyền về việc bán nhà, xin được đứng tên cùng mua căn nhà. Theo họ, mẹ tôi và họ cùng là hàng thừa kế thứ nhất.
Do có đơn của những người này nên việc thực hiện mua nhà của mẹ tôi bị ách tắc, UBND phường nơi mẹ tôi cư ngụ không ký xác nhận bất cứ giấy tờ nào liên quan tới việc mua nhà cho bà. Tuy nhiên khi bà yêu cầu được xem đơn của 4 người con thì UBND phường không đồng ý.
Trong khi đang làm thủ tục mẹ tôi có di chúc cho người con trai (có tên trong hộ khẩu) căn nhà và nhường quyền được mua nhà cho người con này. Ngày 6-1-2012 mẹ tôi qua đời. Hiện nay người con trai được mẹ tôi di chúc đang sống trong căn nhà này và tiếp tục trả tiền thuê đất.
Xin hỏi, việc UBND phường không ký xác nhận tất cả giấy tờ liên quan đến việc mua nhà của mẹ tôi như vậy có đúng pháp luật không? Hiện ai sẽ được đứng tên mua nhà theo đúng quy định? Người được đứng tên mua nhà cần phải có những thủ tục gì? Gửi cơ quan thẩm quyền nào giải quyết?
Mong được giải đáp. Xin cảm ơn.
Hue Nguyen (huenguyen1251@... )
Trả lời
Trước tiên, bạn cần lưu ý vấn đề sau, Nghị định 61/CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở quy định về việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; kinh doanh nhà ở và mua bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh.
Ngoài ra, cũng theo Nghị định 61/CP, bên bán nhà ở phải là chủ sở hữu hợp pháp nhà ở và chủ sử dụng hợp pháp đất ở. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa tiến hành việc ký hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước đối với người đang thuê là bố hoặc mẹ bạn, cũng chưa có bất kỳ một văn bản nào thể hiện căn nhà trên thuộc sở hữu nhà nước. Vì thế, việc cơ quan bố bạn làm văn bản gửi Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM để chỉ định người mua nhà phải là mẹ bạn cũng chỉ mang tính chất làm cơ sở để chứng minh nguồn gốc tạo lập của căn nhà.
Do đó, để có cơ sở và hướng giải quyết tiếp theo, bạn nên liên hệ Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM để xác thực và làm rõ xem căn nhà hiện tại có phải thuộc sở hữu nhà nước hay không. Trường hợp căn nhà thuộc sở hữu nhà nước thì Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM mới là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xác định ai sẽ là đối tượng đủ điều kiện để được mua nhà thuộc sở hữu nhà nước.
Liên quan đến việc từ chối ký các loại văn bản giấy tờ của UBND phường nơi có căn nhà tọa lạc khi gia đình bạn tiến hành thủ tục mua nhà (nếu nhà ở thuộc sở hữu nhà nước) hoặc thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (nếu nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước): nếu có cơ sở cho rằng căn nhà nêu trên đang trong tình trạng tranh chấp thì UBND phường có quyền từ chối ký vào các văn bản liên quan khi gia đình bạn tiến hành thủ tục.
Tuy nhiên, trong trường hợp UBND phường lấy lý do có đơn của 4 người con kia của mẹ bạn thì mẹ bạn có quyền yêu cầu UBND phường xác thực các đơn này. Nếu UBND phường từ chối thì mẹ bạn có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND phường theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về khiếu nại để được giải quyết.
Ngoài việc liên hệ Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM để được xác thực thông tin như đã nêu trên, bạn cũng có thể liên hệ UBND cấp huyện nơi có căn nhà tọa lạc để hỏi rõ hơn về tình trạng pháp lý hiện hữu của căn nhà, từ đó mới có thể xác định các bước tiếp theo trong quá trình xác lập quyền sở hữu nhà ở đối với căn nhà trên.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Theo TTO
Hỏi: Hiện nay tôi mua nhà và đất trong đó họ bán cam kết trong hợp đồng là 67m2 thổ cư ra sổ hồng riêng tại thị trấn Nhà Bè. Nhưng khi ra sổ thì chỉ có 52m2, phần còn lại do họ lấn chiếm đất công của Nhà nước làm sân và bán cho tôi với tổng diện tích là 76m2 thổ cư.
1) Trường hợp này họ đang chiếm đoạt tài sản đất của Nhà nước đem bán cho người mua.
2) Họ đang lừa đảo người mua phải mua đất công của Nhà nước (Đất công của Nhà nước thuộc hẻm giới mà Nhà nước đã quy hoạch). Xin tư vấn giúp tôi!
Nguyen Tan Tai (taint@...)
Trả lời
Trường hợp của bạn là bài học và kinh nghiệm khi nhận chuyển nhượng đất và chuyển nhượng quyền sở hữu nhà mà chưa tìm hiểu kỹ mọi thông tin về diện tích đất được sử dụng thực tế cũng như quyền sở hữu đối với diện tích thực của căn nhà.
Nếu đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng bên chuyển nhượng đã cam kết sẽ chuyển nhượng cho bạn 67m2 đất nhưng thực tế bạn chỉ được đứng tên trên diện tích 52m2 vì phần diện tích đất còn lại thuộc sở hữu nhà nước đã được quy hoạch thì bạn nên cân nhắc thương lượng hòa giải với người chuyển nhượng, nếu không giải quyết được bạn có quyền khởi kiện người chuyển nhượng ra trước cơ quan tòa án có thẩm quyền về hành vi lừa dối trong giao dịch mua bán.
Trân trọng,
1) Trường hợp này họ đang chiếm đoạt tài sản đất của Nhà nước đem bán cho người mua.
2) Họ đang lừa đảo người mua phải mua đất công của Nhà nước (Đất công của Nhà nước thuộc hẻm giới mà Nhà nước đã quy hoạch). Xin tư vấn giúp tôi!
Nguyen Tan Tai (taint@...)
Trả lời
Trường hợp của bạn là bài học và kinh nghiệm khi nhận chuyển nhượng đất và chuyển nhượng quyền sở hữu nhà mà chưa tìm hiểu kỹ mọi thông tin về diện tích đất được sử dụng thực tế cũng như quyền sở hữu đối với diện tích thực của căn nhà.
Nếu đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng bên chuyển nhượng đã cam kết sẽ chuyển nhượng cho bạn 67m2 đất nhưng thực tế bạn chỉ được đứng tên trên diện tích 52m2 vì phần diện tích đất còn lại thuộc sở hữu nhà nước đã được quy hoạch thì bạn nên cân nhắc thương lượng hòa giải với người chuyển nhượng, nếu không giải quyết được bạn có quyền khởi kiện người chuyển nhượng ra trước cơ quan tòa án có thẩm quyền về hành vi lừa dối trong giao dịch mua bán.
Trân trọng,
Luật sư Lê Thị Hoài Giang
(Theo TTO)
(Theo TTO)
Hỏi: Tôi có thuê một căn nhà để ở, có công chứng hợp đồng thuê nhà, thời hạn thuê là 3 năm. Đến nay, việc thuê nhà đã được 2 năm và tôi muốn chấm dứt hợp đồng thuê nhà.
Trong hợp đồng thuê nhà không có điều khoản về đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà chỉ nêu chung chung “theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Nhà ở”. Xin hỏi, tôi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà? Nếu được thì tôi phải làm như thế nào để khỏi bị phạt hợp đồng? (Trần Thị Thùy Như, Đường Võ Văn Kiệt, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh)
Trả lời
Điều 426 Bộ Luật Dân sự, quy định: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Khoản 3, Điều 498 BLDS quy định: “Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà phải báo cho bên kia biết trước một tháng, nếu không có thỏa thuận khác”. Điều 103 Luật Nhà ở cũng quy định: “Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất một tháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Như vậy, theo quy định pháp luật, bà có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà với điều kiện là phải báo trước cho bên A (bên cho thuê nhà) biết trước ít nhất 1 tháng.
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý
Hỏi: Tôi đang dự định mua một nền đất dự án, thuộc dự án khu dân cư Bách Khoa, chợ Phú Lạc 2, của Công ty ĐV. Dự án nằm trên đường Đa Phước, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh - Tp.HCM.
Theo như lời chủ đầu tư, sau khi thanh toán xong 98%, chúng tôi có thể nhận nền và nhận giấy phép xây dựng, sau đó, khi đã xây nhà xong thì bên phía công ty sẽ lo thủ tục sổ hồng...
Tôi rất muốn kiểm tra pháp lý của dự án này nhưng không biết làm cách nào? Vì vậy, cho tôi hỏi có nên mua đất nền ở dự án này không và dự án thuộc khu vực này có khả năng ra sổ hồng được hay không?
Thanh Hiên Chu (thanhhien05@...)
Trả lời
Thông thường, để kiểm tra tính pháp lý của đất dự án bạn nên yêu cầu chủ đầu tư cung cấp cho bạn những loại hồ sơ, giấy tờ sau:
- Thứ nhất, văn bản thỏa thuận địa điểm quy hoạch dự án của văn phòng kiến trúc sư trưởng;
- Thứ hai, hồ sơ chứng tỏ đã hoàn tất giải tỏa đền bù đối với khu đất dự án đó (nếu thuộc trường hợp phải đền bù);
- Thứ ba, hồ sơ chấp thuận của UBND quận, huyện chuyển văn phòng kiến trúc sư trưởng và có văn bản kiến trúc sư trưởng chấp thuận phê duyệt quy hoạch;
- Thứ tư, văn bản thể hiện khu đất dự án đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất;
- Thứ năm, chủ đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khu đất nền dự án đó.
Ngoài ra, bạn cũng nên xem xét khả năng tài chính của chủ đầu tư, nhất là nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước cũng như độ uy tín của nhà đầu tư qua các dự án họ đã thực hiện (các dự án này có trôi chảy hay không).
Vì bạn không cung cấp đầy đủ hồ sơ của dự án này nên tôi không thể tư vấn cho bạn là nên mua hay không nên mua và khu đất này có khả năng ra sổ hồng hay không. Tuy nhiên, tốt nhất bạn nên đến phòng quản lý đô thị của quận, huyện nơi có khu đất dự án để nhờ tư vấn về tính chất pháp lý của dự án rồi hãy quyết định có nên mua hay không.
Trân trọng,
Luật sư Lê Thị Hoài Giang
Hỏi: Tôi có mua 1 căn nhà 50m2 nằm trên diện tích nhà ở 200m2 của người bán và là phần còn lại cuối cùng trên lô này của người bán. Các phần kia người bán làm thủ tục tách sổ cho từng người mua rồi.
Đến phần diện tích còn lại của tôi, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ký tên, đóng dấu và xác nhận phần diện tích cuối cùng này đã được chuyển nhượng cho tôi trên sổ hồng gốc của người bán. Vì vậy người bán giao lại cho tôi sổ hồng này (lệ phí trước bạ và thuế thu nhập cá nhân người bán đã đóng đầy đủ theo diện tích bán cho tôi rồi). Các hợp đồng mua bán cho việc này đã được công chứng đầy đủ.
Vậy tôi xin hỏi việc người bán giao cho tôi sổ hồng gốc kèm với các nội dung như trên thì có hợp lệ không, sau này tôi cần sang nhượng/thế chấp thì các thủ tục này đã đảm bảo chưa?
Xuân Lộc (xuanloc3001@...)
Trả lời
Căn cứ Điều 450 Bộ Luật dân sự quy định hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản và phải có công chứng chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ Điều 37 Luật Công chứng, thẩm quyền công chứng hợp đồng mua bán nhà thuộc công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng hoạt động trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Căn cứ khoản 3, Điều 451 Bộ Luật dân sự, bên bán nhà có nghĩa vụ giao nhà ở đúng tình trạng đã ghi trong hợp đồng, kèm theo hồ sơ về nhà cho bên mua.
Căn cứ khoản 1, Điều 454 Luật Dân sự, bên bán nhà có quyền nhận nhà ở đúng tình trạng đã thỏa thuận, kèm theo hồ sơ về nhà.
Căn cứ khoản 1, Điều 64 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23-6-2010, thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán được tính từ ngày hợp đồng mua bán nhà được công chứng hay chứng thực.
Theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22-10-2010, trong trường hợp chuyển quyền sử dụng đất và chuyển quyền sở hữu nhà dưới hình thức mua bán, tặng cho…, nếu bên mua hay bên nhận tặng cho nhà đất có yêu cầu sử dụng giấy chứng nhận chủ quyền nhà đất đã cấp trước đây cho chủ cũ, thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sẽ xác nhận việc chuyển quyền vào trang 3, 4 của giấy chứng nhận bao gồm các nội dung liên quan đến thông tin về nhân thân của bên mua nhà đất.
Theo thư trình bày, hợp đồng mua bán nhà của ông/bà đã được công chứng, bên mua và bên bán đã hoàn tất các nghĩa vụ về thuế, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã cập nhật việc thay đổi tên của chủ sở hữu nhà ở và tên của người sử dụng đất tại trang bổ sung của giấy chứng nhận chủ quyền nhà đất.
Do đó, căn cứ vào các quy định nêu trên, hiện nay việc người bán giao cho ông /bà giấy chứng nhận chủ quyền bản chính và các giấy tờ liên quan đến căn nhà thể hiện tên của người mua như thư trình bày, được xem là hai bên đã thực hiện thủ tục mua bán theo đúng quy định của pháp luật.
Vì vậy, ông/bà có toàn quyền thực hiện các quyền của mình đối với căn nhà đó là quyền bán, thế chấp, cho thuê… căn nhà theo quy định của pháp luật.
Trân trọng,
Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO
Hỏi: Năm 2005, UBND huyện ra quyết định thu hồi 1.725m2 đất của tôi và đến năm 2008 thì gia đình tôi đã nhận tiền bồi thường.
Quá trình đó, tôi đã nộp tiền cho chủ đầu tư để mua lại nền tái định cư nhưng đến nay chủ đầu tư vẫn chưa giao đất nền.
Xin hỏi, nay gia đình tôi có quyền đơn phương hủy bỏ các biên bản thỏa thuận về việc bồi thường trước đây với chủ đầu tư và yêu cầu UBND huyện thu hồi, hủy bỏ các quyết định thu hồi đất để hoàn trả cho gia đình tôi toàn bộ đất đã thu hồi hay không? (Lê Thị Sen, xã Thới Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương)
Trả lời
Theo khoản 2, Điều 44 Luật Đất đai thì việc thu hồi đất của UBND huyện là đúng thẩm quyền. Thêm vào đó, theo trình bày của bà thì việc bồi thường đất đã thực hiện xong và gia đình bà đã nhận đủ tiền bồi thường. Như vậy, bà không thể và cũng không có cơ sở để đề nghị UBND huyện thu hồi, hủy bỏ quyết định thu hồi đất, mặc dù bà sẵn sàng hoàn trả số tiền bồi thường đã nhận đủ vào năm 2008.
Vấn đề còn lại ở đây là đến nay chủ đầu tư chưa giao đất nền tái định cư cho bà theo hạn định. Về việc này, bà cần nộp đơn yêu cầu chủ đầu tư giao đất nền và nếu cần thì bà có thể khởi kiện ra Tòa án để Tòa án xử buộc chủ đầu tư thực hiện theo hợp đồng.
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý
Hỏi: Vợ chồng tôi có một căn nhà ngang 6m dài 18m ở thị xã Thủ Dầu Một. Nay chúng tôi cần tiền để lấy vốn làm ăn nên có ý định bán một nửa căn nhà cho người hàng xóm.
Vậy chúng tôi có được bán không và thủ tục như thế nào? Tôi nghe nói chiều ngang căn nhà sau khi tách ra còn 3m thì không được, điều đó có đúng không?
Mộng Trâm, Thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương
Trả lời:
Để bán một phần căn nhà trên, trước tiên nhà của bạn phải đáp ứng những điều kiện theo quy định của pháp luật là: có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật; không có tranh chấp về quyền sở hữu; không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Nếu đảm bảo được những điều kiện trên, vợ chồng bạn cùng người mua ký hợp đồng mua bán một phần căn nhà. Hợp đồng mua bán nhà phải có chứng nhận của phòng Công chứng hoặc chứng thực của UBND thị xã Thủ Dầu Một. Bạn và người mua có thể thoả thuận về việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và lệ phí theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để tách riêng một phần căn nhà khi bán cho người khác thì ngoài những điều kiện nêu trên, phần diện tích đất mà căn nhà toạ lạc còn phải đảm bảo điều kiện về diện tích tối thiểu khi tách thửa theo quy định của tỉnh Bình Dương. Căn nhà của bạn có diện tích 108m2 và chiều rộng mặt tiền 6m, nếu tách đôi thì mỗi bên chỉ còn 54m2 và chiều rộng 3m sẽ không đủ điều kiện về diện tích tối thiểu khi tách thửa theo quyết định số 49/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Dương quy định diện tích tối thiểu các loại đất được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo điều 3 của quyết định này, diện tích đất ở tối thiểu trên địa bàn các thị trấn thuộc thị xã Thủ Dầu Một là 80m2, thửa đất sau khi được tách phải có chiều rộng mặt tiền từ 4m trở lên.
Như vậy, nếu bạn muốn bán một phần căn nhà trên cho người khác thì chỉ có thể để họ đứng tên đồng sở hữu trên giấy chứng nhận vì không thể tách riêng được.
Để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, bạn và người mua phải chuẩn bị hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận gồm đơn xin cấp giấy chứng nhận, hợp đồng mua bán nhà có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nộp tại phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Thủ Dầu Một để được giải quyết theo quy định của pháp luật hiện hành.
LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT
Hỏi: Tôi đang ở xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, Tp.HCM. Vừa qua tôi có xin UBND xã cho tôi được phép xây mở rộng nhà ở, xây thêm nhà kho để bảo quản đồ đạc, nhưng không được chấp thuận.
Lý do: nhà ở của tôi chưa được hợp thức hóa (chưa có sổ hồng), căn nhà tôi ở hiện tại có sổ đỏ hẳn hoi, có chứng nhận sở hữu nhà ở chỉ là chưa có sổ hồng.
Chủ tịch xã yêu cầu tôi phải hợp thức hóa nhà ở, lên sổ hồng xong mới được xem xét cấp phép xây mở rộng, thời gian xem xét là 2, 3 tuần, cấp phép thì cũng 2 tháng hơn nhưng tôi lại đang cần xây gấp để có chỗ để đồ đạc... Xin hỏi trường hợp của tôi có được cấp phép xây mở rộng thêm nhà kho không?
(ngocyen140486@...)
Trả lời
Về việc nộp giấy chủ quyền nhà đất khi lập hồ sơ đề nghị cấp phép xây dựng:
Căn cứ khoản 2, điều 8 nghị định 64/2010/NĐ-CP ngày 4-9-2012 của Chính phủ, một trong những giấy tờ mà chủ đầu tư nộp cho cơ quan cấp phép xây dựng là bản sao có chứng thực một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo nhà thì nộp giấy tờ về quyền sở hữu công trình, nhà ở...
Theo tinh thần của điều này có thể hiểu “giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai” và “giấy tờ về quyền sở hữu công trình, nhà ở” là những giấy tờ chủ quyền về đất hay nhà do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận chủ quyền.
Căn cứ khoản 2, điều 48 Luật đất đai được sửa đổi theo luật số 38/2009/QH12, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng và pháp luật về dân sự trước ngày 1-8-2009 vẫn có giá trị pháp lý và không phải đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của luật này; trường hợp người đã được cấp giấy chứng nhận có nhu cầu cấp đổi, thì được cấp đổi sang loại giấy mới theo quy định của luật này và không phải nộp lệ phí.
Như vậy, về nguyên tắc, các loại giấy chủ quyền về nhà, đất mà người dân đã được cấp trước ngày 1-8-2009 theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì hiện nay vẫn có giá trị pháp lý để thực hiện các quyền của người sử dụng đất và quyền của người sở hữu nhà, mà không phải làm thủ tục đổi từ giấy chủ quyền đã cấp trước đây ra giấy chủ quyền mới.
Căn cứ các quy định nêu trên thì hiện nay chúng tôi có thể hiểu, khi người sử dụng đất lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng để xây dựng mới, xây dựng thêm hay sửa chữa nhà, nếu họ đã có giấy chủ quyền đất và giấy chủ quyền nhà đã được cấp trước ngày 1-8-2009, không phải lập thủ tục để cấp đổi ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định hiện hành.
Do đó, theo thư trình bày, ông/bà cho biết phải lập thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận chủ quyền nhà đất đã được cấp trước đây sang mẫu giấy chủ quyền mới hiện nay là không phù hợp với quy định tại khoản 2, điều 48 Luật đất đai.
Căn cứ khoản 1, điều 24 nghị định 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Xây dựng là cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng có trách nhiệm ban hành, hướng dẫn chi tiết các nội dung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng. Do nghị định nêu trên mới có hiệu lực từ ngày 20-10-2012 và chưa có thông tư hướng dẫn về những vấn đề trên, vì vậy, để xác định được một cách chắc chắn những điều khoản nào mà nghị định còn quy định một cách tổng quát, chưa rõ, thì phải chờ thông tư của Bộ Xây dựng hướng dẫn một cách cụ thể.
Trân trọng.
Luật sư Phạm Đình Sơn
(Theo TTO)
Hỏi: Tôi muốn biết điều kiện được cấp giấy phép xây dựng đối với các loại công trình và nhà ở riêng lẻ trong đô thị? - Dương Quang Minh (Đống Đa, Hà Nội).
Trả lời:
Căn cứ Điều 5 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP ngày 4-9-2012 của Chính phủ, thì các loại công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng khi đáp ứng các điều kiện sau: 1. Phù hợp với quy hoạch xây dựng, mục đích sử dụng đất, mục tiêu đầu tư; 2. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất, địa điểm xây dựng, công trình được cấp giấy phép xây dựng phải: Tuân thủ các quy định về chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng; đảm bảo an toàn công trình và công trình lân cận và các yêu cầu về: Giới hạn tĩnh không, độ thông thủy, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật, phòng cháy chữa cháy (PCCC), hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước, viễn thông), hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, năng lượng, giao thông, khu di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa và đảm bảo khoảng cách đến các công trình dễ cháy, nổ, độc hại, các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; 3. Hồ sơ thiết kế xây dựng phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện; thiết kế phải được thẩm định, phê duyệt theo quy định. Đối với nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích sàn nhỏ hơn 250m2, dưới 3 tầng và không nằm trong khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa thì chủ đầu tư được tự tổ chức thiết kế xây dựng và tự chịu trách nhiệm về an toàn của công trình và các công trình lân cận.
Đối với công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị, áp dụng khoản 1, Điều 6 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP, ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung quy định nêu trên, đối với công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị để được cấp giấy phép xây dựng còn phải đáp ứng các điều kiện riêng như sau: a) Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; b) Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết, thì phải phù hợp với Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; c) Công trình xây dựng dân dụng cấp đặc biệt, cấp I trong đô thị phải có thiết kế tầng hầm theo yêu cầu của đồ án quy hoạch đô thị và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị, áp dụng khoản 1, Điều 6 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP, ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung quy định nêu trên, đối với công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị để được cấp giấy phép xây dựng còn phải đáp ứng các điều kiện riêng như sau: a) Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; b) Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết, thì phải phù hợp với Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; c) Công trình xây dựng dân dụng cấp đặc biệt, cấp I trong đô thị phải có thiết kế tầng hầm theo yêu cầu của đồ án quy hoạch đô thị và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thạc sĩ, luật sư Quản Văn Minh - Công ty Luật số 5 Quốc gia
Theo HNM
Theo HNM
Hỏi: Cha mẹ tôi chết có để lại một căn nhà không có di chúc. Sau đó, chị ruột tôi chết. Bây giờ, con trai của chị ấy đòi tôi bán căn nhà của ông bà ngoại để chia thừa kế, nếu không sẽ kiện ra Tòa.
Xin hỏi, cháu tôi yêu cầu như vậy đúng hay sai? (Hồ Thị Mỵ Nương, đường số 77, phường Tân Quy, quận 7, Tp.HCM)
Theo Điều 674 Bộ luật Dân sự, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế theo pháp luật quy định. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật là căn nhà được bán để chia.
Theo đó, căn nhà trên là tài sản thuộc sở hữu của nhiều đồng thừa kế, trong đó có người chị ruột của bà. Khi người chị qua đời không có di chúc, phần nhà thừa kế của chị ấy thuộc quyền sở hữu của những người thừa kế theo pháp luật của người chết, trong đó có con trai của chị ấy (tức cháu ruột của bà). Tất cả những người thừa kế căn nhà trên có quyền thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản theo các phương án nêu trên. Trường hợp không thể thương lượng được thì các bên có quyền khởi kiện ra TAND cấp huyện, nơi có căn nhà để được xem xét, giải quyết..
Trả lời
Theo đó, căn nhà trên là tài sản thuộc sở hữu của nhiều đồng thừa kế, trong đó có người chị ruột của bà. Khi người chị qua đời không có di chúc, phần nhà thừa kế của chị ấy thuộc quyền sở hữu của những người thừa kế theo pháp luật của người chết, trong đó có con trai của chị ấy (tức cháu ruột của bà). Tất cả những người thừa kế căn nhà trên có quyền thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản theo các phương án nêu trên. Trường hợp không thể thương lượng được thì các bên có quyền khởi kiện ra TAND cấp huyện, nơi có căn nhà để được xem xét, giải quyết..
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý
Theo Công lý
Hỏi: Tôi có một căn nhà đã có sổ hồng, đang còn thời hạn hợp đồng cho thuê nhà để ở. Xin hỏi, nếu có người hỏi mua thì tôi có quyền bán nhà hay phải đợi đến khi hết hạn hợp đồng thuê nhà? (Phạm Văn Minh, Bửu Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai)
Trả lời
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý
Theo Công lý
Hỏi: Trước đây nhà tôi có 1 cái giếng. Những hộ dân ngoài bưng có vào xin nước về sử dụng nên ông bà nhà tôi có mở một con đường nhỏ cho họ đi lại gánh nước.
Nhưng từ năm 2008 người dân không còn vào gánh nước nên nhà tôi đã làm sân, mái che khu vực đó cho đến nay.
Nay chủ đất trước nhà tôi bán đất, phá rào và chia thành nhiều lô, lô ngoài thì giáp đường nhựa còn lô trong thì giáp nhà tôi. Nên họ kêu nhà tôi phải phá mái che, am thờ tổ tiên và sân để những lô trong của đất họ có đường đi lại và ra sổ đỏ.
Tôi thấy thật vô lý vì đất của họ mua bán thì họ phải mở đường cho người ta đi chứ nhà tôi đâu có đụng gì đâu mà họ yêu cầu như vậy. Nhờ luật sư tư vấn giúp gia đình tôi. Chân thành cảm ơn!
(baoxuyen@...)
Căn cứ Điều 17 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2007, UBND cấp tỉnh là nơi có thẩm quyền quy định chi tiết về diện tích tối thiểu của thửa đất được phép tách thửa.
Thông thường, UBND cấp tỉnh sẽ quy định những điều kiện khác kèm theo điều kiện về diện tích tối thiểu, như khi tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Điều này có thể hiểu khi tách thửa đất, người sử dụng đất ngoài việc tuân thủ điều kiện về diện tích tối thiểu được tách thửa còn phải đảm bảo thửa đất mới có đường đi, đường cấp thoát nước… kết nối với đường đi và hệ thống cấp thoát nước hiện hữu.
Nếu không đảm bảo những điều kiện như trên thì không đủ điều kiện để được tách thửa.
Theo thư trình bày, người sử dụng đất phía ngoài đã tách thửa đất của mình thành nhiều thửa và yêu cầu ông/bà phải dành một phần đất mà mình đang sử dụng để làm đường đi cho thửa đất phía trong là không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc khi tách thửa.
Bởi lẽ, căn cứ khoản 3 Điều 275 Bộ Luật dân sự, trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong.
Căn cứ theo quyết định nêu trên thì người tách thửa có nghĩa vụ phải tạo lập lối đi bằng đất thuộc quyền sử dụng của mình cho người sử dụng đất phía trong, chứ không phải buộc người khác không liên quan đến việc tách thửa phải dành phần đất của mình để tạo lập lối đi cho người sử dụng đất phía trong.
Ông/bà có quyền căn cứ vào quy định nêu trên để từ chối yêu cầu của người sử dụng đất phía ngoài.
Thân ái!
Nay chủ đất trước nhà tôi bán đất, phá rào và chia thành nhiều lô, lô ngoài thì giáp đường nhựa còn lô trong thì giáp nhà tôi. Nên họ kêu nhà tôi phải phá mái che, am thờ tổ tiên và sân để những lô trong của đất họ có đường đi lại và ra sổ đỏ.
Tôi thấy thật vô lý vì đất của họ mua bán thì họ phải mở đường cho người ta đi chứ nhà tôi đâu có đụng gì đâu mà họ yêu cầu như vậy. Nhờ luật sư tư vấn giúp gia đình tôi. Chân thành cảm ơn!
(baoxuyen@...)
Trả lời
Thông thường, UBND cấp tỉnh sẽ quy định những điều kiện khác kèm theo điều kiện về diện tích tối thiểu, như khi tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Điều này có thể hiểu khi tách thửa đất, người sử dụng đất ngoài việc tuân thủ điều kiện về diện tích tối thiểu được tách thửa còn phải đảm bảo thửa đất mới có đường đi, đường cấp thoát nước… kết nối với đường đi và hệ thống cấp thoát nước hiện hữu.
Nếu không đảm bảo những điều kiện như trên thì không đủ điều kiện để được tách thửa.
Theo thư trình bày, người sử dụng đất phía ngoài đã tách thửa đất của mình thành nhiều thửa và yêu cầu ông/bà phải dành một phần đất mà mình đang sử dụng để làm đường đi cho thửa đất phía trong là không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc khi tách thửa.
Bởi lẽ, căn cứ khoản 3 Điều 275 Bộ Luật dân sự, trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong.
Căn cứ theo quyết định nêu trên thì người tách thửa có nghĩa vụ phải tạo lập lối đi bằng đất thuộc quyền sử dụng của mình cho người sử dụng đất phía trong, chứ không phải buộc người khác không liên quan đến việc tách thửa phải dành phần đất của mình để tạo lập lối đi cho người sử dụng đất phía trong.
Ông/bà có quyền căn cứ vào quy định nêu trên để từ chối yêu cầu của người sử dụng đất phía ngoài.
Thân ái!
Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO
Theo TTO
Hỏi: Trong năm 2011, tôi có làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận nhà đất tại UBND xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn (Tp.HCM) với tổng diện tích là 656,4m2, diện tích nhà là 100m2.
Khi tôi đến Cục Thuế Hóc Môn để đóng tiền sử dụng đất, họ nói tạm thời đóng lệ phí trước bạ, ghi nợ vô sổ hồng rồi lấy sổ về vì chưa có giá tính thuế mới, phải chờ lãnh đạo phía trên ra quyết định. Suốt năm 2011, tôi đến cục thuế nhiều lần để hỏi về giá tính thuế nhưng họ đều nói là cả thành phố đều phải chờ quyết định mới.
Vào cuối năm 2011, do hoàn cảnh khó khăn nên tôi có đăng bán một nền đất diện tích 6x15m, giá là 450 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận là làm giấy tay, đến khi nào có giá tính thuế mới thì gia đình tôi sẽ nộp thuế và tách sổ sau. Nhưng do không hiểu biết về thủ tục giấy tờ mua bán, lúc đó họ bảo là toàn bộ chi phí trước bạ, tách sổ đều do bên tôi chịu. Họ đưa tôi số tiền là 300 triệu đồng, hẹn khi nào tách sổ được thì giao tiếp 150 triệu còn lại. Đến đầu tháng 8 năm nay, họ bảo do chờ tách sổ quá lâu nên giờ muốn xây nhà trước và gia đình tôi đứng tên xin giấy phép.
Tôi thắc mắc không biết liệu chi phí tách thửa đất không có nhà và tách đất có nhà chênh lệch nhiều không? Vì gia đình tôi phải đóng tiền sử dụng đất (nghe nói là rất cao), nay phải chịu thêm phần chi phí chuyển nhượng, tách thửa (họ đang chuẩn bị xây nhà). Như vậy tổng chi phí thuế đất, tách sổ có vượt quá giá trị hợp đồng không? Kính mong được giải đáp thắc mắc này để không chịu thiệt thòi trong việc mua bán đất đai.
Ngan Nguyen (hoangngan_yh@...)
Theo thư trình bày, ông/bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sử dụng nhà ở, nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ đóng tiền sử dụng đất. Vì vậy, hiện nay ông/bà không thể thực hiện thủ tục sang nhượng một phần nhà và tách thửa cho bên mua, ông/bà chỉ có thể thực hiện thủ tục này sau khi đã hoàn tất thủ tục đóng tiền sử dụng đất nêu trên.
Về chi phí tách thửa, khi tiến hành thủ tục chuyển nhượng một phần nhà - đất và tách thửa thì ông/bà có nghĩa vụ phải đóng thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập từ chuyển nhượng một phần nhà - đất.
Trong trường hợp giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng sang nhượng thấp hơn giá chuyển nhượng trên thị trường thì cơ quan thuế sẽ căn cứ theo bảng giá đất do UBND Tp.HCM quy định tại thời điểm chuyển nhượng để xác định giá đất và căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà hay giá nhà do UBND thành phố quy định để tính lệ phí trước bạ nhà làm căn cứ xác định giá chuyển nhượng nhà (căn cứ khoản 3, mục II, thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30-9-2008 của Bộ Tài chính).
Theo thư trình bày, thực chất ông/bà chỉ sang nhượng đất và chỉ nhận số tiền tương ứng với giá trị đất mà ông /bà sang nhượng; còn phần nhà là do bên mua tự xây, nhưng khi sang nhượng vẫn lập thủ tục sang nhượng cả đất và nhà.
Vì vậy, tuy ông/bà không thật sự hưởng thu nhập từ việc làm thủ tục sang nhượng nhà, nhưng về nguyên tắc pháp lý, ông/bà là người đang đứng tên chủ sở hữu căn nhà.
Để chia sẻ phần thuế thu nhập mà ông/bà phải chịu đối với căn nhà, ông/bà có thể thỏa thuận với bên mua để bên mua đóng thay ông/bà số tiền thuế thu nhập cá nhân phát sinh từ giá trị căn nhà.
Khi tiến hành thủ tục tách thửa, ông/bà cần tuân thủ những điều kiện sau:
Căn cứ khoản 1, điều 3 quyết định 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND Tp.HCM, đối với khu vực huyện Hóc Môn, diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa là 80m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5m, đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Vì vậy, ông/bà cần đối chiếu với điều kiện về tách thửa nêu trên để xác định việc sang nhượng nhà - đất của hai bên có đủ điều kiện để tiến hành sang nhượng tại phòng công chứng có thẩm quyền và tách thửa hay không.
Thân ái!
Vào cuối năm 2011, do hoàn cảnh khó khăn nên tôi có đăng bán một nền đất diện tích 6x15m, giá là 450 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận là làm giấy tay, đến khi nào có giá tính thuế mới thì gia đình tôi sẽ nộp thuế và tách sổ sau. Nhưng do không hiểu biết về thủ tục giấy tờ mua bán, lúc đó họ bảo là toàn bộ chi phí trước bạ, tách sổ đều do bên tôi chịu. Họ đưa tôi số tiền là 300 triệu đồng, hẹn khi nào tách sổ được thì giao tiếp 150 triệu còn lại. Đến đầu tháng 8 năm nay, họ bảo do chờ tách sổ quá lâu nên giờ muốn xây nhà trước và gia đình tôi đứng tên xin giấy phép.
Tôi thắc mắc không biết liệu chi phí tách thửa đất không có nhà và tách đất có nhà chênh lệch nhiều không? Vì gia đình tôi phải đóng tiền sử dụng đất (nghe nói là rất cao), nay phải chịu thêm phần chi phí chuyển nhượng, tách thửa (họ đang chuẩn bị xây nhà). Như vậy tổng chi phí thuế đất, tách sổ có vượt quá giá trị hợp đồng không? Kính mong được giải đáp thắc mắc này để không chịu thiệt thòi trong việc mua bán đất đai.
Ngan Nguyen (hoangngan_yh@...)
Trả lời
Về chi phí tách thửa, khi tiến hành thủ tục chuyển nhượng một phần nhà - đất và tách thửa thì ông/bà có nghĩa vụ phải đóng thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập từ chuyển nhượng một phần nhà - đất.
Trong trường hợp giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng sang nhượng thấp hơn giá chuyển nhượng trên thị trường thì cơ quan thuế sẽ căn cứ theo bảng giá đất do UBND Tp.HCM quy định tại thời điểm chuyển nhượng để xác định giá đất và căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà hay giá nhà do UBND thành phố quy định để tính lệ phí trước bạ nhà làm căn cứ xác định giá chuyển nhượng nhà (căn cứ khoản 3, mục II, thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30-9-2008 của Bộ Tài chính).
Theo thư trình bày, thực chất ông/bà chỉ sang nhượng đất và chỉ nhận số tiền tương ứng với giá trị đất mà ông /bà sang nhượng; còn phần nhà là do bên mua tự xây, nhưng khi sang nhượng vẫn lập thủ tục sang nhượng cả đất và nhà.
Vì vậy, tuy ông/bà không thật sự hưởng thu nhập từ việc làm thủ tục sang nhượng nhà, nhưng về nguyên tắc pháp lý, ông/bà là người đang đứng tên chủ sở hữu căn nhà.
Để chia sẻ phần thuế thu nhập mà ông/bà phải chịu đối với căn nhà, ông/bà có thể thỏa thuận với bên mua để bên mua đóng thay ông/bà số tiền thuế thu nhập cá nhân phát sinh từ giá trị căn nhà.
Khi tiến hành thủ tục tách thửa, ông/bà cần tuân thủ những điều kiện sau:
Căn cứ khoản 1, điều 3 quyết định 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND Tp.HCM, đối với khu vực huyện Hóc Môn, diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa là 80m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5m, đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Vì vậy, ông/bà cần đối chiếu với điều kiện về tách thửa nêu trên để xác định việc sang nhượng nhà - đất của hai bên có đủ điều kiện để tiến hành sang nhượng tại phòng công chứng có thẩm quyền và tách thửa hay không.
Thân ái!
Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO
Theo TTO
Hỏi: Gia đình tôi đang xây dựng nhà ở, cán bộ thuế tại địa phương yêu cầu gia đình nộp thuế xây dựng nhà ở. Việc cơ quan thuế yêu cầu gia đình tôi đóng thuế khi xây dựng nhà ở có đúng quy định không?
Theo tôi tìm hiểu thì Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 80/2010/QĐ-TTg miễn phí xây dựng từ ngày 1/2/2011. Đề nghị cơ quan chức năng giải đáp về vấn đề này.
Vũ Hoàng Nhã (hoangapl88@...)
Trả lời:
Chi cục Thuế Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk có ý kiến như sau:
Tại Điều 1, Điều 2 Quyết định số 80/2010/QĐ-TTg ngày 09/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về miễn phí xây dựng quy định:
"Miễn phí xây dựng quy định tại điểm 2, Mục II Phần A Danh mục chi tiết phí, lệ phí (Ban hành theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 của Chính phủ). Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2012".
Theo quy định tại điểm 2, mục II, phần A Danh mục phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị đinh số 24/2006/NĐ-CP nêu trên thì phí xây dựng thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Tại tiết a.l, điểm 4, Mục III Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định mức thu và chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với các khoản thu phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quy định:
“Phí xây dựng là khoản thu vào chủ đầu tư xây dựng công trình nhằm mục đích hỗ trợ đầu tư xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng công cộng trên địa bàn mà chủ đầu tư xây dựng công trình".
Căn cứ vào các quy định trên, số thuế đối với hoạt động xây dựng nhà ở tư nhân bao gồm thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) (theo quy định tại Luật thuế GTGT và Luật thuế TNCN) mà công dân Vũ Hoàng Nhã phải nộp không phải phí xây dựng nên không được miễn.
Vũ Hoàng Nhã (hoangapl88@...)
Trả lời:
Chi cục Thuế Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk có ý kiến như sau:
Tại Điều 1, Điều 2 Quyết định số 80/2010/QĐ-TTg ngày 09/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về miễn phí xây dựng quy định:
"Miễn phí xây dựng quy định tại điểm 2, Mục II Phần A Danh mục chi tiết phí, lệ phí (Ban hành theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 của Chính phủ). Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2012".
Theo quy định tại điểm 2, mục II, phần A Danh mục phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị đinh số 24/2006/NĐ-CP nêu trên thì phí xây dựng thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Tại tiết a.l, điểm 4, Mục III Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định mức thu và chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với các khoản thu phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quy định:
“Phí xây dựng là khoản thu vào chủ đầu tư xây dựng công trình nhằm mục đích hỗ trợ đầu tư xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng công cộng trên địa bàn mà chủ đầu tư xây dựng công trình".
Căn cứ vào các quy định trên, số thuế đối với hoạt động xây dựng nhà ở tư nhân bao gồm thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) (theo quy định tại Luật thuế GTGT và Luật thuế TNCN) mà công dân Vũ Hoàng Nhã phải nộp không phải phí xây dựng nên không được miễn.
Hỏi: Tôi có một miếng đất 241m2 ở quận Tân Bình, đang xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất (đã là đất thổ cư).
Đây là bất động sản duy nhất của gia đình và tôi muốn tách ra thành 3 miếng nhỏ để cho 3 con trai (đều trên 20 tuổi, không có bất kỳ bất động sản nào khác và chưa lập gia đình). Xin hỏi bây giờ tôi phải làm thủ tục tách ra sao? Có phải đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức không?
Huy Cuong Nguyen, (huycuong@...)
Về việc tách thửa và tiền sử dụng đất quá hạn mức:
Theo thư trình bày, hiện nay ông đang lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở (giấy chứng nhận chủ quyền) cho căn nhà mà ông đang ở và ông muốn thực hiện việc tách thửa và chuyển quyền sở hữu cho ba người con, mỗi người một căn.
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 91 Luật nhà ở, điều kiện khi tách thửa và chuyển quyền sở hữu cho ba người con là ông phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà.
Vì vậy, ông không thể tiến hành thủ tục tách thửa khi chưa được cấp giấy chứng nhận. Sau khi ông được cấp giấy chứng nhận chủ quyền đối với nhà và đất, lúc đó ông sẽ thực hiện thủ tục tách thửa và chuyển nhượng cho ba người con theo quy định của pháp luật.
Về tiền sử dụng đất vượt hạn mức đất ở, căn cứ khoản 1, Điều 2 Quyết định số 28/2012/QĐ- UBND ngày 6-7-2012 của UBND Tp.HCM, đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức đất được giao, khi người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì toàn bộ diện tích đất vượt hạn mức sẽ được tính bằng cách lấy giá đất do UBND thành phố công bố hằng năm nhân với hệ số hai.
Ví dụ:
- Giá đất tại khu vực có căn nhà có giá trị 3.000.000 đồng/m2
- Hệ số điều chỉnh giá đất là 2 lần giá đất nêu trên
- Vậy giá đất mà ông phải đóng sau khi nhân với hệ số điều chỉnh là 3.000.000đồng/m2 × 2 = 6.000.000đồng/m2.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, để ông có thể tiến hành thủ tục tách thửa và chuyển quyền sở hữu nhà cho ba người con, ông phải hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận chủ quyền cho căn nhà và được cấp giấy chứng nhận, đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức. Sau khi hoàn tất thủ tục nêu trên, ông có thể tiến hành việc tách thửa theo quy định sau:
Căn cứ điểm h, khoản 1, Điều 3 Quyết định 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND Tp.HCM, với khu vực quận Tân Bình, đối với đất chưa có nhà ở thì diện tích đất tối thiểu của mỗi thửa đất (gồm diện tích của thửa đất mới hình thành và diện tích của thửa đất còn lại) là 50m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 4m.
Đối với đất có nhà ở thì diện tích tối thiểu được phép tách thửa là 45m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 3m, tại đường phố có lộ giới lớn hơn hoặc bằng 20m; đối với đường phố có lộ giới nhỏ hơn 20m thì diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa là 30m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 3m.
Đồng thời việc tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Thân ái!
LS Phạm Đình Sơn
Theo TTO
Huy Cuong Nguyen, (huycuong@...)
Trả lời
Theo thư trình bày, hiện nay ông đang lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở (giấy chứng nhận chủ quyền) cho căn nhà mà ông đang ở và ông muốn thực hiện việc tách thửa và chuyển quyền sở hữu cho ba người con, mỗi người một căn.
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 91 Luật nhà ở, điều kiện khi tách thửa và chuyển quyền sở hữu cho ba người con là ông phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà.
Vì vậy, ông không thể tiến hành thủ tục tách thửa khi chưa được cấp giấy chứng nhận. Sau khi ông được cấp giấy chứng nhận chủ quyền đối với nhà và đất, lúc đó ông sẽ thực hiện thủ tục tách thửa và chuyển nhượng cho ba người con theo quy định của pháp luật.
Về tiền sử dụng đất vượt hạn mức đất ở, căn cứ khoản 1, Điều 2 Quyết định số 28/2012/QĐ- UBND ngày 6-7-2012 của UBND Tp.HCM, đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức đất được giao, khi người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì toàn bộ diện tích đất vượt hạn mức sẽ được tính bằng cách lấy giá đất do UBND thành phố công bố hằng năm nhân với hệ số hai.
Ví dụ:
- Giá đất tại khu vực có căn nhà có giá trị 3.000.000 đồng/m2
- Hệ số điều chỉnh giá đất là 2 lần giá đất nêu trên
- Vậy giá đất mà ông phải đóng sau khi nhân với hệ số điều chỉnh là 3.000.000đồng/m2 × 2 = 6.000.000đồng/m2.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, để ông có thể tiến hành thủ tục tách thửa và chuyển quyền sở hữu nhà cho ba người con, ông phải hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận chủ quyền cho căn nhà và được cấp giấy chứng nhận, đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức. Sau khi hoàn tất thủ tục nêu trên, ông có thể tiến hành việc tách thửa theo quy định sau:
Căn cứ điểm h, khoản 1, Điều 3 Quyết định 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND Tp.HCM, với khu vực quận Tân Bình, đối với đất chưa có nhà ở thì diện tích đất tối thiểu của mỗi thửa đất (gồm diện tích của thửa đất mới hình thành và diện tích của thửa đất còn lại) là 50m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 4m.
Đối với đất có nhà ở thì diện tích tối thiểu được phép tách thửa là 45m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 3m, tại đường phố có lộ giới lớn hơn hoặc bằng 20m; đối với đường phố có lộ giới nhỏ hơn 20m thì diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa là 30m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 3m.
Đồng thời việc tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Thân ái!
LS Phạm Đình Sơn
Theo TTO
Hỏi: Tôi có mảnh đất 54m2 ở mặt tiền đường Tô Ngọc Vân, P.Thạnh Xuân, Q.12 (Tp.HCM). Hiện trên đất có nhà cấp 4, có sổ đỏ, khu dân cư có vỉa hè, đường nhựa 8m. Tôi định xây nhà trên phần diện tích này nhưng đường Tô Ngọc Vân có lộ giới từ tim đường vào 15m.
Vì thế diện tích nhà tôi là 21,5m2, diện tích xây dựng 18,7m2, phần diện tích đất không nằm trong phạm vi quy hoạch xây dựng 32,5m2. Vậy với diện tích nhà 21,5 m2 và diện tích xây dựng 18,7m2 tôi có thể xin giấy phép xây dựng tối đa được bao nhiêu tầng? Xin cảm ơn.
Long Nguyen (mmmty2005@...)
Đối với lô đất không đủ chuẩn xây dựng (có diện tích không nhỏ hơn 36m2, chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng là 3m trở lên) như trường hợp của bạn nêu, việc xây dựng được xem xét tùy theo vị trí mặt tiền hay trong hẻm.
Theo đó, đối với trường hợp lô đất có vị trí mặt tiền, nếu lô đất có diện tích từ 15m2 đến dưới 36m2, có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên, được phép cải tạo, sửa chữa theo quy mô số tầng hiện hữu hoặc xây dựng mới tối đa 2 tầng (có thể bố trí tầng lửng tại trệt và mái che cầu thang tại sân thượng), chiều cao toàn công trình không quá 13,4m (đối với đường có lộ giới từ 20m trở lên) và không quá 12,2m (đối với đường có lộ giới từ 12m đến dưới 20m).
Bạn không nói rõ chiều rộng mặt tiền và chỉ giới xây dựng của lô đất. Do vậy, với những thông tin bạn nêu, nếu đất có chiều rộng mặt tiền và chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên, bạn được phép xây dựng mới tối đa 2 tầng (có thể bố trí tầng lửng tại trệt và mái che cầu thang tại sân thượng), chiều cao toàn công trình không quá 12,2m.
Trân trọng.
Long Nguyen (mmmty2005@...)
Trả lời
Quyết định số 135 của UBND Tp.HCM quy định về kiến trúc nhà liên kế trong khu đô thị hiện hữu trên địa bàn Tp.HCM ngày 8/12/2007 và quyết định số 45 ngày 3/7/2009 của UBND Tp.HCM sửa đổi quyết định 135 nêu trên có quy định:Đối với lô đất không đủ chuẩn xây dựng (có diện tích không nhỏ hơn 36m2, chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng là 3m trở lên) như trường hợp của bạn nêu, việc xây dựng được xem xét tùy theo vị trí mặt tiền hay trong hẻm.
Theo đó, đối với trường hợp lô đất có vị trí mặt tiền, nếu lô đất có diện tích từ 15m2 đến dưới 36m2, có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên, được phép cải tạo, sửa chữa theo quy mô số tầng hiện hữu hoặc xây dựng mới tối đa 2 tầng (có thể bố trí tầng lửng tại trệt và mái che cầu thang tại sân thượng), chiều cao toàn công trình không quá 13,4m (đối với đường có lộ giới từ 20m trở lên) và không quá 12,2m (đối với đường có lộ giới từ 12m đến dưới 20m).
Bạn không nói rõ chiều rộng mặt tiền và chỉ giới xây dựng của lô đất. Do vậy, với những thông tin bạn nêu, nếu đất có chiều rộng mặt tiền và chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên, bạn được phép xây dựng mới tối đa 2 tầng (có thể bố trí tầng lửng tại trệt và mái che cầu thang tại sân thượng), chiều cao toàn công trình không quá 12,2m.
Trân trọng.
Luật sư Đoàn Thị Ngọc Linh
Theo TTO
Theo TTO
Hỏi: Gia đình tôi sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (mẫu cũ). Năm 1989 gia đình tôi khai hoang sử dụng 450m2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m2.
Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp. Năm 2012, địa phương yêu cầu các hộ gia đình nộp bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) để làm lại. Vậy, gia đình tôi có thể đề nghị cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mới với diện tích đất thực tế là 800m2 không?
Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: Hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15/10/1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;
- Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
- Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
- Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
- Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.
Tại khoản 5 Điều 14 Nghị định này quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận.
Cụ thể trường hợp bà Phan Thị Hoài Tâm: Gia đình bà sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mẫu cũ. Năm 1989 gia đình bà khai hoang sử dụng 450 m2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m2. Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp.
Căn cứ các quy định nêu trên: Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được duyệt hiện nay, thì gia đình bà được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích sử dụng thực tế 800 m2. Khi được chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất liền kề 450 m2 đã sử dụng từ năm 1989, thì gia đình bà Tâm phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do UBND tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới; bằng 100% theo giá đất ở do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở (theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 bổ sung vào khoản 5 Điều 8 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ).
Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này là một trong những trường hợp đất lấn chiếm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP nêu trên và việc sử dụng đất đó hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, thì gia đình bà không được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đó.
Phan Thị Hoài Tâm (phanthihoaitam@...)
Trả lời:Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: Hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15/10/1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;
- Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
- Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
- Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
- Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.
Tại khoản 5 Điều 14 Nghị định này quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận.
Cụ thể trường hợp bà Phan Thị Hoài Tâm: Gia đình bà sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mẫu cũ. Năm 1989 gia đình bà khai hoang sử dụng 450 m2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m2. Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp.
Căn cứ các quy định nêu trên: Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được duyệt hiện nay, thì gia đình bà được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích sử dụng thực tế 800 m2. Khi được chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất liền kề 450 m2 đã sử dụng từ năm 1989, thì gia đình bà Tâm phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do UBND tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới; bằng 100% theo giá đất ở do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở (theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 bổ sung vào khoản 5 Điều 8 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ).
Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này là một trong những trường hợp đất lấn chiếm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP nêu trên và việc sử dụng đất đó hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, thì gia đình bà không được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đó.
Luật sư Lê Văn Đài
VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội
Theo Chinhphu.vn
VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội
Theo Chinhphu.vn
Hỏi: Gia đình tôi sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (mẫu cũ). Năm 1989 gia đình tôi khai hoang sử dụng 450m2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m2.
Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp. Năm 2012, địa phương yêu cầu các hộ gia đình nộp bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) để làm lại. Vậy, gia đình tôi có thể đề nghị cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mới với diện tích đất thực tế là 800m 2 không?
Phan Thị Hoài Tâm (phanthihoaitam@...
Trả lời:
Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: Hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15/10/1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;
- Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
- Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
- Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
- Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.
Tại khoản 5 Điều 14 Nghị định này quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận.
Cụ thể trường hợp bà Phan Thị Hoài Tâm: Gia đình bà sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m 2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mẫu cũ. Năm 1989 gia đình bà khai hoang sử dụng 450 m 2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m 2 . Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp.
Căn cứ các quy định nêu trên: Nếu việc sử dụng 450 m 2 đất liền kề này được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được duyệt hiện nay, thì gia đình bà được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích sử dụng thực tế 800 m 2 . Khi được chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất liền kề 450 m 2 đã sử dụng từ năm 1989, thì gia đình bà Tâm phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do UBND tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới; bằng 100% theo giá đất ở do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở (theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 bổ sung vào khoản 5 Điều 8 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ).
Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này là một trong những trường hợp đất lấn chiếm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP nêu trên và việc sử dụng đất đó hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, thì gia đình bà không được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đó.
Phan Thị Hoài Tâm (phanthihoaitam@...
Trả lời:
Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: Hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15/10/1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;
- Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
- Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
- Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
- Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.
Tại khoản 5 Điều 14 Nghị định này quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận.
Cụ thể trường hợp bà Phan Thị Hoài Tâm: Gia đình bà sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m 2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mẫu cũ. Năm 1989 gia đình bà khai hoang sử dụng 450 m 2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m 2 . Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp.
Căn cứ các quy định nêu trên: Nếu việc sử dụng 450 m 2 đất liền kề này được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được duyệt hiện nay, thì gia đình bà được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích sử dụng thực tế 800 m 2 . Khi được chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất liền kề 450 m 2 đã sử dụng từ năm 1989, thì gia đình bà Tâm phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do UBND tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới; bằng 100% theo giá đất ở do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở (theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 bổ sung vào khoản 5 Điều 8 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ).
Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này là một trong những trường hợp đất lấn chiếm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP nêu trên và việc sử dụng đất đó hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, thì gia đình bà không được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đó.
Luật sư Lê Văn Đài
Theo Chinhphu
Theo Chinhphu
Hỏi: Nhà tôi hiện có 1.900m2 đất, trong đó có 300m2 đất ở. Hiện bố tôi đang muốn tách đất cho các con nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã khoanh vùng chỉ giới không cụ thể chỗ nào là đất ở và chỗ nào là đất vườn.
Vậy nếu nhà tôi tách 1.900m2 đất trên thành 5 sổ (mỗi sổ 60m2 đất) trong khi vị trí đất ở thay đổi so với chỉ giới ban đầu thì có được không, hay chỉ được tách đất ở và vẫn cố định vị trí ban đầu đã được khoanh vùng?
Lương Thùy Dương (canhduonglam@...)
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình chị đã khoanh vùng chỉ giới cụ thể phần đất ở và phần đất vườn thì khi tách thửa (nếu được phép tách thửa) phải thực hiện theo đúng nội dung của giấy chứng nhận, không được hoán đổi vị trí.
Ngoài ra, khi tách thửa, gia đình chị cũng cần lưu ý về diện tích tối đa được phép tách thửa đối với cả đất ở và đất nông nghiệp theo quy định của UBND cấp tỉnh.
Theo điều 1 quyết định 3997/2009/QĐ-UBND ngày 20/11/2009 của UBND tỉnh Phú Thọ, thửa đất ở chỉ được tách thửa khi diện tích của các thửa đất hình thành sau khi tách từ thửa đất đó không nhỏ hơn 50m2, đảm bảo kích thước chiều dài bề mặt và chiều sâu không nhỏ hơn 4m.
Về điều kiện để tách thửa đất nông nghiệp, chị nên liên hệ với văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để được thông tin cụ thể.
Trường hợp việc tách thửa đất đáp ứng các điều kiện tách thửa theo quy định, bố chị cần nộp bộ hồ sơ xin tách thửa đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện, gồm:
a) Đơn xin tách thửa
b) Sổ đỏ thửa đất
c) Hợp đồng tặng cho đất đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định
d) Bản vẽ hiện trạng vị trí đất hoặc trích đo địa chính thửa đất
Thời gian giải quyết là 14 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
Thân ái!
Lương Thùy Dương (canhduonglam@...)
Trả lời
Ngoài ra, khi tách thửa, gia đình chị cũng cần lưu ý về diện tích tối đa được phép tách thửa đối với cả đất ở và đất nông nghiệp theo quy định của UBND cấp tỉnh.
Theo điều 1 quyết định 3997/2009/QĐ-UBND ngày 20/11/2009 của UBND tỉnh Phú Thọ, thửa đất ở chỉ được tách thửa khi diện tích của các thửa đất hình thành sau khi tách từ thửa đất đó không nhỏ hơn 50m2, đảm bảo kích thước chiều dài bề mặt và chiều sâu không nhỏ hơn 4m.
Về điều kiện để tách thửa đất nông nghiệp, chị nên liên hệ với văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để được thông tin cụ thể.
Trường hợp việc tách thửa đất đáp ứng các điều kiện tách thửa theo quy định, bố chị cần nộp bộ hồ sơ xin tách thửa đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện, gồm:
a) Đơn xin tách thửa
b) Sổ đỏ thửa đất
c) Hợp đồng tặng cho đất đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định
d) Bản vẽ hiện trạng vị trí đất hoặc trích đo địa chính thửa đất
Thời gian giải quyết là 14 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
Thân ái!
Luật sư Huỳnh Văn Nông
Theo Tuổi trẻ
Theo Tuổi trẻ
Hỏi: Tôi có ý định mua một miếng đất thuộc dự án phát triển nhà ở huyện Bình Chánh, Tp.HCM.
Theo tìm hiểu, đối với đất dự án, ngoài việc ký hợp đồng góp vốn với chủ đầu tư thì thông thường chủ đầu tư sẽ cho người mua giữ sổ đỏ (mặc dù sổ đỏ đứng tên chủ đầu tư) và sau khi xây nhà xong thì họ sẽ chuyển quyền sử dụng đất và sở hữu nhà cho người ký hợp đồng góp vốn.
Tuy nhiên, đối với dự án đất nền tôi đang giao dịch (đã đặt cọc) thì phía chủ đầu tư nói rằng không cho tôi giữ sổ đỏ mà chỉ cho xem bản gốc và giữ bản photo thôi, chỉ khi nào tôi hoàn thành việc xây nhà thì công ty sẽ làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất và sở hữu nhà cho tôi.
Xin tư vấn giúp tôi là trong trường hợp này tôi có nên mua miếng đất đó không? Những rủi ro nào có thể xảy ra do tôi không giữ sổ đỏ và phải vài năm nữa tôi mới có tiền xây nhà.
Le Dao Vu (le_daovu@...)
Về việc góp vốn đầu tư xây dựng nhà ở.
Căn cứ điểm c, khoản 1, điều 9 nghị định 71/2010 NĐ-CP ngày 23-6-2010 của Chính phủ, ông/bà và chủ đầu tư dự án nhà ở có thể lựa chọn một trong hai hình thức sau đây:
i/ Ký kết hợp đồng góp vốn với chủ đầu tư xây dựng nhà ở và ông/bà sẽ được phân chia sản phẩm là nhà ở với số lượng là một căn nhà, trên cơ sở tỉ lệ vốn góp. Số lượng nhà ở mà chủ đầu tư dự án được phép phân chia các hợp đồng loại này tối đa không quá 20% số lượng nhà ở mỗi dự án.
Đồng thời, chủ đầu tư phải thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án về số lượng, địa chỉ, loại nhà ở được phân chia, kèm theo thông báo này là danh sách tên, địa chỉ các đối tượng được chia nhà ở để Sở Xây dựng xác nhận thay cho giấy xác nhận đã bán qua sàn giao dịch bất động sản.
ii/ Ký hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, theo đó ông/bà ứng trước cho chủ đầu tư nhà ở một số tiền theo quy định tại hợp đồng.
Tuy nhiên, chủ đầu tư nhà ở chỉ được ký kết hợp đồng loại này khi đã có thiết kế kỹ thuật nhà ở được phê duyệt, đã xây dựng xong phần móng của nhà ở, đã hoàn thành thủ tục mua bán qua sàn giao dịch bất động sản và đã thông báo cho Sở Xây dựng biết trước ít nhất là 15 ngày, tính đến ngày các bên ký kết hợp đồng, để Sở Xây dựng theo dõi, kiểm tra, trong trường hợp phát hiện chủ đầu tư huy động vốn không đúng quy định thì Sở Xây dựng có văn bản yêu cầu chủ đầu tư dừng việc huy động vốn, hủy bỏ các hợp đồng đã ký và thực hiện lại theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 4, điều 9 nghị định 71/2010/NĐ-CP, chủ đầu tư nhà ở phải sử dụng vốn đúng mục đích, không được sử dụng vào mục đích khác. Những trường hợp huy động vốn không đúng các hình thức và những điều kiện quy định tại điều 9 nghị định 71/2010/NĐ-CP thì hợp đồng đã ký không có giá trị pháp lý và bên huy động vốn bị xử lý theo quy định hiện hành.
Căn cứ vào các quy định như trên thì trước khi ông/bà tiến hành ký kết hợp đồng với chủ đầu tư xây dựng nhà ở, ông/ bà cần xác định và kiểm tra điều kiện pháp lý của dự án và chủ đầu tư xây dựng nhà ở có đủ điều kiện ký hợp đồng góp vốn hay hợp đồng bán nhà hình thành trong tương lai như đã nêu trên hay không.
Đây là bước khởi đầu quan trọng nhất trước khi hai bên ký kết hợp đồng, bước kiểm tra này nhằm tránh tình trạng mua bán hay góp vốn vào dự án không có thực.
Theo thư trình bày, ông/bà cho biết đã đặt cọc cho chủ đầu tư và ông/bà muốn sau khi ký hợp đồng góp vốn sẽ là bên giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên chủ đầu tư. Giải pháp này không đúng với bản chất của giao dịch mà hai bên đang tiến hành.
Bởi lẽ, thực chất giao dịch mà hai bên đang tiến hành là giao dịch góp vốn và sản phẩm mà hai bên phân chia là nhà ở hay là giao dịch mua bán mà đối tượng mua bán là nhà ở hình thành trong tương lai theo hình thức người mua ứng tiền trước.
Do đó, cả hai trường hợp nêu trên, chủ đầu tư có nghĩa vụ phải hoàn thành xây dựng nhà ở và sau đó sẽ chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho người góp vốn hay người mua nhà và người góp vốn hay người mua nhà có nghĩa vụ góp vốn hay ứng tiền trước theo đúng quy định của hợp đồng, đồng thời chủ đầu tư nhà ở giao bản chính giấy tờ nhà cho người mua.
Vì vậy, thỏa thuận chủ đầu tư giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người góp vốn hay người mua nhà giữ không đem lại an toàn hơn hay lợi ích hơn, vì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn là tên của chủ đầu tư.
Việc giữ giấy này hoàn toàn khác với việc giữ bản chính giấy tờ nhà đối với giao dịch thế chấp, nó không đem lại cho người cầm giữ quyền gì, khi bên kia không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Hiện nay, rủi ro mà người góp vốn hay người mua nhà thường gặp là chủ đầu tư chậm bàn giao nhà. Việc chậm trễ nhiều trường hợp không hoàn toàn do lỗi của chủ đầu tư mà do nhiều yếu tố khách quan khác nhau mà khi hai bên tiến hành giao dịch không lường trước được.
Không có giải pháp nào thật sự đem lại nhiều hiệu quả để buộc chủ đầu tư phải thực hiện đúng tiến độ bàn giao nhà. Để hạn chế thiệt hại từ việc chủ đầu tư bàn giao nhà trễ hạn, thường hợp đồng góp vốn hay hợp đồng mua bán nhà quy định điều khoản phạt do chậm bàn giao nhà. Nhưng đây chỉ là giải pháp hạn chế thiệt hại chứ không phải là giải pháp hạn chế hoàn toàn rủi ro mà người góp vốn hay ngưới mua nhà thường gặp.
Về câu hỏi ông bà có nên mua đất hay không, do luật sư không có hồ sơ cụ thể liên quan đến dự án nên không thể đưa ra ý kiến tư vấn về pháp lý nên hay không nên tham gia giao dịch.
Trân trọng.
Tuy nhiên, đối với dự án đất nền tôi đang giao dịch (đã đặt cọc) thì phía chủ đầu tư nói rằng không cho tôi giữ sổ đỏ mà chỉ cho xem bản gốc và giữ bản photo thôi, chỉ khi nào tôi hoàn thành việc xây nhà thì công ty sẽ làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất và sở hữu nhà cho tôi.
Xin tư vấn giúp tôi là trong trường hợp này tôi có nên mua miếng đất đó không? Những rủi ro nào có thể xảy ra do tôi không giữ sổ đỏ và phải vài năm nữa tôi mới có tiền xây nhà.
Le Dao Vu (le_daovu@...)
Trả lời
Căn cứ điểm c, khoản 1, điều 9 nghị định 71/2010 NĐ-CP ngày 23-6-2010 của Chính phủ, ông/bà và chủ đầu tư dự án nhà ở có thể lựa chọn một trong hai hình thức sau đây:
i/ Ký kết hợp đồng góp vốn với chủ đầu tư xây dựng nhà ở và ông/bà sẽ được phân chia sản phẩm là nhà ở với số lượng là một căn nhà, trên cơ sở tỉ lệ vốn góp. Số lượng nhà ở mà chủ đầu tư dự án được phép phân chia các hợp đồng loại này tối đa không quá 20% số lượng nhà ở mỗi dự án.
Đồng thời, chủ đầu tư phải thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án về số lượng, địa chỉ, loại nhà ở được phân chia, kèm theo thông báo này là danh sách tên, địa chỉ các đối tượng được chia nhà ở để Sở Xây dựng xác nhận thay cho giấy xác nhận đã bán qua sàn giao dịch bất động sản.
ii/ Ký hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, theo đó ông/bà ứng trước cho chủ đầu tư nhà ở một số tiền theo quy định tại hợp đồng.
Tuy nhiên, chủ đầu tư nhà ở chỉ được ký kết hợp đồng loại này khi đã có thiết kế kỹ thuật nhà ở được phê duyệt, đã xây dựng xong phần móng của nhà ở, đã hoàn thành thủ tục mua bán qua sàn giao dịch bất động sản và đã thông báo cho Sở Xây dựng biết trước ít nhất là 15 ngày, tính đến ngày các bên ký kết hợp đồng, để Sở Xây dựng theo dõi, kiểm tra, trong trường hợp phát hiện chủ đầu tư huy động vốn không đúng quy định thì Sở Xây dựng có văn bản yêu cầu chủ đầu tư dừng việc huy động vốn, hủy bỏ các hợp đồng đã ký và thực hiện lại theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 4, điều 9 nghị định 71/2010/NĐ-CP, chủ đầu tư nhà ở phải sử dụng vốn đúng mục đích, không được sử dụng vào mục đích khác. Những trường hợp huy động vốn không đúng các hình thức và những điều kiện quy định tại điều 9 nghị định 71/2010/NĐ-CP thì hợp đồng đã ký không có giá trị pháp lý và bên huy động vốn bị xử lý theo quy định hiện hành.
Căn cứ vào các quy định như trên thì trước khi ông/bà tiến hành ký kết hợp đồng với chủ đầu tư xây dựng nhà ở, ông/ bà cần xác định và kiểm tra điều kiện pháp lý của dự án và chủ đầu tư xây dựng nhà ở có đủ điều kiện ký hợp đồng góp vốn hay hợp đồng bán nhà hình thành trong tương lai như đã nêu trên hay không.
Đây là bước khởi đầu quan trọng nhất trước khi hai bên ký kết hợp đồng, bước kiểm tra này nhằm tránh tình trạng mua bán hay góp vốn vào dự án không có thực.
Theo thư trình bày, ông/bà cho biết đã đặt cọc cho chủ đầu tư và ông/bà muốn sau khi ký hợp đồng góp vốn sẽ là bên giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên chủ đầu tư. Giải pháp này không đúng với bản chất của giao dịch mà hai bên đang tiến hành.
Bởi lẽ, thực chất giao dịch mà hai bên đang tiến hành là giao dịch góp vốn và sản phẩm mà hai bên phân chia là nhà ở hay là giao dịch mua bán mà đối tượng mua bán là nhà ở hình thành trong tương lai theo hình thức người mua ứng tiền trước.
Do đó, cả hai trường hợp nêu trên, chủ đầu tư có nghĩa vụ phải hoàn thành xây dựng nhà ở và sau đó sẽ chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho người góp vốn hay người mua nhà và người góp vốn hay người mua nhà có nghĩa vụ góp vốn hay ứng tiền trước theo đúng quy định của hợp đồng, đồng thời chủ đầu tư nhà ở giao bản chính giấy tờ nhà cho người mua.
Vì vậy, thỏa thuận chủ đầu tư giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người góp vốn hay người mua nhà giữ không đem lại an toàn hơn hay lợi ích hơn, vì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn là tên của chủ đầu tư.
Việc giữ giấy này hoàn toàn khác với việc giữ bản chính giấy tờ nhà đối với giao dịch thế chấp, nó không đem lại cho người cầm giữ quyền gì, khi bên kia không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Hiện nay, rủi ro mà người góp vốn hay người mua nhà thường gặp là chủ đầu tư chậm bàn giao nhà. Việc chậm trễ nhiều trường hợp không hoàn toàn do lỗi của chủ đầu tư mà do nhiều yếu tố khách quan khác nhau mà khi hai bên tiến hành giao dịch không lường trước được.
Không có giải pháp nào thật sự đem lại nhiều hiệu quả để buộc chủ đầu tư phải thực hiện đúng tiến độ bàn giao nhà. Để hạn chế thiệt hại từ việc chủ đầu tư bàn giao nhà trễ hạn, thường hợp đồng góp vốn hay hợp đồng mua bán nhà quy định điều khoản phạt do chậm bàn giao nhà. Nhưng đây chỉ là giải pháp hạn chế thiệt hại chứ không phải là giải pháp hạn chế hoàn toàn rủi ro mà người góp vốn hay ngưới mua nhà thường gặp.
Về câu hỏi ông bà có nên mua đất hay không, do luật sư không có hồ sơ cụ thể liên quan đến dự án nên không thể đưa ra ý kiến tư vấn về pháp lý nên hay không nên tham gia giao dịch.
Trân trọng.
Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO
Theo TTO






