“Tôi không đặt vấn đề ai đúng, ai sai, mà tôi muốn nói đến một “cuộc chơi” tổng thể, nhìn từ những nguyên lý căn bản đến một trường hợp cụ thể, một tình huống cụ thể đây là thị trường BĐS. Dù có làm thế nào thì khó khăn nhất hiện nay là ta muốn nhiều thứ trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế suy giảm, không ít lĩnh vực đình đốn, nguồn lực lại hạn hẹp, xã hội đa chiều với nhiều bức xúc chính đáng. Rất cần sự minh bạch, quyết đoán, và trách nhiệm. Ý chí chính trị phải chuyển thành việc giải trình đàng hoàng và gắn với một thể chế thực thi được giám sát tốt”.
![]() |
| TS. Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM) |
PV: Dư luận đang rất quan tâm đến vấn đề giải cứu BĐS, và có nhiều cuộc bàn luận, tranh cãi xung quanh vấn đề này. Tiêu biểu là cuộc tranh luận giữa TS. Alan Phan và CLB BĐS. Xin ông cho biết quan điểm của riêng ông về vấn đề này?
TS. Võ Trí Thành: Tranh luận là điều đáng khích lệ. Sẽ có cái đúng, cái chưa đúng và cả cái sai. Ngay trong cái đúng, chưa hẳn mọi khía cạnh đã đúng; và trong cái sai cũng vậy. Cái hay ở đây là “cọ sát” lập luận, học hỏi và có thể tìm ra điều tối ưu nhất, khả dĩ nhất khi xử lý một vấn đề. Tôi nghĩ cuộc tranh luận gần đây xung quanh vấn đề BĐS có không ít ý nghĩa tích cực.
Điều đáng tiếc và đáng buồn là cuộc tranh luận (kể cả những cuộc tranh luận về một số vấn đề khác) lại đôi khi được đẩy lên ít nhiều có dáng dấp hiềm khích, dè bỉu. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà tôi không muốn tham gia vào các cuộc tranh luận như vậy..
Riêng tôi, tôi thích thú khi đọc một số bài viết gần đây đề cập đến văn hóa đối thoại. Đó cũng là điều rất cần bàn. Dịp Tết vừa qua, tôi có bài báo nhỏ: “Đi tìm giá trị thực, bền vững cho nền kinh tế VN”, với kết luận là “Một điều nữa VN cần cải thiện, đó là học cách đối thoại giữa các nhóm xã hội khác nhau, giữa Nhà nước với thị trường, với xã hội, giữa trong nước với ngoài nước. Một cách đối thoại cần có là cởi mở, sẵn lòng trao đổi bất cứ vấn đề gì, bởi thế giới bây giờ như vậy, chứ không phải một cách đối thoại né tránh, thiếu rõ ràng và đôi khi quá nhiều ẩn ý”.
Đó là chưa nói chúng ta rất cần tôn trọng lẫn nhau vì chúng ta đều là người Việt. Nói vậy không có nghĩa tôi chỉ cứ nghiên cứu, cứ làm thôi và né tránh tranh luận. Tôi sẵn lòng tham gia tranh luận, với hiểu biết nào đó của mình, về kinh tế, về thị trường BĐS VN nếu đó thực sự là một cuộc đối thoại trên tinh thần tôn trọng, cởi mở và chân thành. Tôi cũng là người “thích nói” mà!
Bây giờ nhiều từ như: “bức xúc”, “nghiêm trọng”, “quyết liệt”, ... đang được sử dụng rất phổ biến khi bàn về kinh tế VN; những từ đó đều có thể đúng cả! Nhưng theo tôi từ cần nhất bây giờ là “bình tĩnh”. Và từ này có lẽ còn ít được dùng đến.
Chúng ta làm gì, nhanh hay từ từ cũng cần bình tĩnh. Có bình tĩnh thì con người ta ứng xử, trao đổi với nhau, xử lý các vấn đề mới hợp lý, đúng được. Quan trọng hơn chúng ta phải có một cái tâm hướng thiện. Chứ không nên hằn học với nhau.
Tôi còn nhớ đại ý một câu nói của một nhà kinh tế đạt giải thưởng Nobel như thế này: đôi khi tôi trưởng thành, tôi lớn lên được là nhờ biết lắng nghe, kể cả lời nói của những người tâm thần, bởi vì trong lời nói ấy vẫn có khía cạnh hợp lý của nó.
PV: - Song dù sao vẫn muốn ông đưa ra quan điểm, nhận định về tình hình thị trường BĐS hiện nay ở nước ta?
TS. Võ Trí Thành: Nếu là về BĐS, về thị trường BĐS, tôi muốn bàn đến ba điểm. Trong đó, hai điểm đầu cũng phản ánh cuộc tranh luận vừa qua, nhưng theo tôi còn được đề cập mờ nhạt, chưa sâu sắc. Còn điểm thứ ba là trực tiếp bàn về câu chuyện BĐS xung quanh tranh luận.
Đầu tiên là một câu chuyện rộng lớn hơn, có vẻ hơi “sách giáo khoa”, song, gắn với cái gốc, cái bản chất của cuộc tranh luận này. Đó là thị trường và vai trò của Nhà nước. Ở đây, không phải tất cả các nhà kinh tế, các nước trên thế giới đều có sự đồng thuận, nhưng nó có những nguyên lý hết sức cơ bản. Và quan hệ thị trường - Nhà nước này cần được nhìn nhận, xem xét trong điều kiện bình thường và cả trong điều kiện kinh tế lâm vào tình trạng cực kỳ khó khăn (như khủng hoảng, suy thoái, đình đốn trên nhiều lĩnh vực,..).
Vai trò của Nhà nước trong thị trường hàng hóa dịch vụ “thông thường” và trong thị trường tài chính (cũng thường rất gắn với BĐS) cũng có thể có những khác biệt, bên cạnh những nguyên lý chung.
Thứ hai, chúng ta hiểu thế nào là BĐS? Câu chuyện mà hiện nay tranh luận cơ bản là về vấn đề nhà ở, hoặc có thể là văn phòng. Nhưng BĐS rộng hơn rất nhiều, ví dụ như BĐS liên quan đến các khu công nghiệp, BĐS liên quan đến logistics (hậu cần) như kho bãi, bến cảng, sân bay; rồi BĐS liên quan đến du lịch,... Cho nên câu chuyện BĐS mà chúng ta nói đến chưa thật đầy đủ. Và nếu nhìn như vậy, các phân khúc của thị trường BĐS có thể có mức độ khó khăn, cơ hội, rủi ro rất khác nhau.
Thứ ba, từ những góc nhìn rộng hơn, từ bức tranh toàn cảnh ở trên, chúng ta mới bàn đến các giải pháp can thiệp vào BĐS. Trong đó làm rõ cách thức can thiệp, mức độ can thiệp, ý đồ can thiệp. Và khi can thiệp, tất nhiên phải tính tới tác động của nó đến tổng thể nền kinh tế, đến các tầng lớp khác nhau trong xã hội, đến các nhóm liên quan, trong đó có BĐS và các ngành nghề xây dựng.
PV: -Ông có thể phân tích cụ thể từng vấn đề mà ông vừa đề cập?
TS. Võ Trí Thành: Nếu nói một cách khái quát nhất, chung nhất, cái đẹp, cái hay của thị trường chính là nếu có thị trường thật sự cạnh tranh thì nguồn lực phân bổ sẽ rất hiệu quả, và đó là một nền tảng cơ bản đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững.
Tôi muốn nhấn mạnh là phải đảm bảo được sự cạnh tranh. Muốn như vậy thì thông tin phải rất minh bạch, đầy đủ, và không kẻ bán người mua nào trên thị trường có thể chi phối được giá cả.
Thế nhưng bản thân thị trường, ngay cả thị trường hoàn hảo, cũng không thể giải quyết được hết bài toán phát triển, ví dụ vấn đề công bằng xã hội. Đó là chưa nói tới thị trường khó có được sự hoàn hảo như mình mong đợi do độc quyền, thông tin thì thiếu và bất đối xứng... Cho nên can thiệp Nhà nước thường nhằm hai đích: một là phân phối lại thu nhập; hai làm làm cho “thị trường càng thị trường hơn”. Ví dụ như thị trường chưa cạnh tranh thì phải làm cho nó cạnh tranh hơn, nó còn độc quyền thì phải làm cho nó bớt độc quyền đi….
Thị trường và Nhà nước là hai vế bổ sung nhau; không phải có cái này thì loại trừ cái kia. Song bổ sung cho nhau như thế nào là câu chuyện không đơn giản. Có “thất bại thị trường”, song “thất bại Nhà nước” cũng không phải là không phổ biến, chẳng hạn, do bộ máy quan liêu, tham nhũng, thiếu năng lực,… Đó là chưa nói tới hiểu đầy đủ thế nào là “công bằng xã hội”; mỗi quốc gia với lịch sử văn hóa, trình độ phát triển cũng có thể có những cách hiểu khác nhau.
Cái thứ hai là cách thức can thiệp Nhà nước vào thị trường hàng hóa, dịch vụ “thông thường” và vào thị trường tài chính. Thị trường tài chính là thị trường tinh xảo, cao cấp, rất phát triển với nhiều "trò chơi" tinh vi. Nó lại liên quan không chỉ đến tiền mà là một lượng tiền khổng lồ với chu chuyển rất nhanh, ở phạm vi toàn cầu... Nó là huyết mạch của các hoạt động kinh tế, song luôn chứa đựng nhiều rủi ro và vì vậy, cách ứng xử của Nhà nước cũng phải khác. Không phải ngẫu nhiên mà sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, đã có rất nhiều nỗ lực tìm kiếm và xây dựng hệ thống giám sát tài chính hiệu quả. Song cho đến bây giờ, những tiến bộ đạt được còn rất hạn chế; hệ thống giám sát tài chính toàn cầu, khu vực như mong đợi vẫn còn ở phía trước.
Cái khó là người ta muốn giám sát thị trường tài chính tốt hơn để hạn chế tối thiểu rủi ro, song làm “nhẹ” quá thì lại dễ vướng vào bất ổn vĩ mô, khủng hoảng, còn làm “mạnh” quá thì lại không làm thị trường tài chính sáng tạo, dòng vốn không chu chuyển êm thấm và hoạt động kinh tế có thể lại thiếu hiệu quả.
Với câu chuyện BĐS, chúng ta từng nói BĐS khu vực là phi sản xuất. Thực ra BĐS cũng là 1 ngành sản xuất kinh doanh, tạo giá trị gia tăng, lợi nhuận, công ăn việc làm, thu nhập. Thế nhưng nó cũng là ngành kinh doanh có nhiều rủi ro vì gắn với những khoản tiền lớn, với ngân hàng, với đất đai. Xử lý các vấn đề của thị trường BĐS và cách thức can thiệp Nhà nước khó có thể tách khỏi câu chuyện tài chính, ngân hang; đó là chưa nói tới sự phức tạp của các khía cạnh pháp lý, xã hội.
Tiếp theo là quan hệ thị trường và Nhà nước trong lúc kinh tế lâm vào khủng hoảng, đình đốn… Trong bối cảnh như vậy, thường thị trường vẫn có tính thích ứng khá cao, song khó thực thi tốt chức năng đảm bảo hiệu quả của nó. Lúc này tín hiệu giá cả bị bóp méo, thông tin “nhiễu” nhiều, hành vi đề phòng , chờ đợi và cả đầu cơ “trỗi dậy”. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh, kinh tế đình trệ làm ảnh hưởng xấu đến việc làm, thu nhập. Lòng tin suy giảm và xã hội trở nên căng thẳng hơn, thậm chí có thể dẫn đến cả sự "hỗn loạn".
Vậy Nhà nước sẽ làm gì? Tất nhiên, Nhà nước nào cũng bảo sẽ cố gắng để đưa nền kinh tế, thị trường về lại trạng thái hoạt động bình thường. Tiếp theo là việc đảm bảo an sinh xã hội. Tốt hơn nữa là việc đưa nền kinh tế trở lại trạng thái bình thường, song ở nấc thang cao hơn, có khả năng chống đỡ trước các cú sốc tốt hơn và hiệu quả hơn.
Bởi nếu chỉ quay lại với nấc thang cũ, thì những điều tồi tệ lại có thể lặp lại. Xử lý đồng thời các vấn đề đó rất không đơn giản, Trong giai đoạn này, dư địa chính sách thường bị thu hẹp. Nguồn thu tài chính của Nhà nước giảm mạnh, “bơm” tiền chỉ một là giải pháp “cực chẳng đã” vì nếu không khéo có thể gây thêm bất ổn và cả các tác động làm tăng thêm bất bình xã hội.
Hơn nữa, lý luận về cách ứng xử Nhà nước trong trường hợp này cũng chưa thực sự phát triển. Một ví dụ là người ta hay nói: hãy hỗ trợ doanh nghiệp nào có khả năng phát triển, hoặc khó khăn chỉ là tạm thời, còn doanh nghiệp nào bệnh nặng quá rồi thì phải chấp nhận ra đi. Nghe có vẻ xuôi, song về lý luận mà nói thì chưa có cách gì thật xác đáng để phân biệt đúng được điều đó. Cái này chỉ có thị trường phân định nổi, ví dụ Ngân hàng và doanh nghiệp là họ hiểu nhau nhất, chứ không phải ông chính sách ngồi trong phòng, ông xác định ra các nhóm doanh nghiệp đấy.
Tiếp nữa, yêu cầu xử lý ở đây là phải có “ông” ở lại, “ông” ra đi. Tuy nhiên, cái khó là một nhóm có vai trò không nhỏ trong việc đưa nền kinh tế thoát khỏi cơn bĩ cực lại là các doanh nghiệp, ngân hàng với các ông chủ thuộc giới trung lưu và khá giả. Thế thì hỗ trợ để ai “đi”, ai “ở”?
Cho nên cách xử lý tốt nhất là phải tìm được cái "huyệt" để xử lý, tạo môi trường hỗ trợ chung, tạo sự lan tỏa tích cực lớn, cùng sự nỗ lực, thích ứng của mỗi doanh nghiệp, để giúp nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, khó khăn trầm trọng. Cái khéo của Nhà nước là làm sao “chi phí điều chỉnh”, xử lý khủng hoảng cả dưới góc độ kinh tế và xã hội là nhỏ nhất. Và ở đây không có đáp án chung sẵn.
Thường các giải pháp được lựa chọn là: nỗ lực ổn định lại kinh tế vĩ mô và lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngân hàng, huyết mạch của nền kinh tế; tăng cường hỗ trợ xã hội, nhất là đối với nhóm nghèo, nhóm dễ bị tổn thương cùng đào tạo lại; tiến hành cải cách cơ cấu kinh tế, nhằm vào những lĩnh vực vốn thường méo mó nhiều nhất trong nền kinh tế như hệ thống tài chính, khu vực công,… Trong quá trình điều chỉnh, cải cách, các “ông chủ” lớn cũng phải chịu đau, cùng chia sẻ tổn phí. Đó là nghĩa vụ và cũng là đạo lý. Sẽ vô cùng khó hoàn thành công cuộc điều chỉnh, chuyển đổi này thiếu quyết tâm chính trị, nếu thiếu giải trình một cách minh bạch, thiếu quyết đoán hành động và trách nhiệm.
PV: Đó là vấn đề thị trường và vai trò của Nhà nước. Còn câu chuyện BĐS mà ông muốn nói đến như thế nào?
TS. Võ Trí Thành: Như tôi đã nêu ở trên, khái niệm BĐS rộng hơn nhiều ngụ ý mà hiện đang tranh cãi. Nhìn một cách khái quát, BĐS của chúng ta còn rất nhiều tiềm năng. Bởi Việt Nam là nền kinh tế mới nổi, hội nhập, nên nhu cầu đối với sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống còn rất lớn. Hạ tầng bất động sản, logistics cho sản xuất hàng hóa vẫn còn rất nhiều dư địa phát triển. Bên cạnh nhu cầu cơ bản, thiết yếu, thu nhập sẽ tăng, tầng lớp trung lưu rồi sẽ lớn lên đòi hỏi những nhu cầu mới đối với BĐS; du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng… trở thành một phần của cuộc sống.
Nhìn tổng thể thì thị trường BĐS Việt Nam còn nhiều hạt sạn lớn, cả về khung khổ pháp lý, về quy hoạch, và phân cấp. Những hạn chế này đang gây ra không ít méo mó trong các mối quan hệ chu chuyển/huy động vốn phát triển BĐS, giao dịch BĐS, phát mại BĐS,.. Cho nên điều đầu tiên mà chúng ta không được quên là còn rất nhiều việc có tính nền tảng phải làm để thị trường BĐS trở nên thị trường hơn. Nếu muốn nói thì đấy cũng là một “cách can thiệp” cần thiết của Nhà nước.
Chu kỳ lên, xuống của thị trường BĐS (nhất là thị trường nhà ở, văn phòng) có tương quan khá chặt chẽ với ổn định kinh tế vĩ mô, mà đằng sau đó ẩn chứa hoạt động tài chính ngân hàng và rủi ro của cả nền kinh tế.
Đến thời điểm này, một số chỉ số kinh tế vĩ mô (lạm phát, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối,..) đã có cải thiện, song rủi ro bất ổn vĩ mô vẫn cao. Bên cạnh đó hoạt dộng sản xuất kinh doanh vẫn hết sức khó khăn, suy giảm, cầu yếu, tồn kho cao, khó tiếp cận vốn, tín dụng.
Như vậy, ổn định kinh tế vĩ mô và cơ cấu lại hệ thống tài chính, ngân hàng là nhiệm vụ hàng đầu, không thể buông lơi. Đây là cũng là một tiền để để đảm bảo sự đổ vỡ BĐS không quay lại trong tương lai. Hai là để ổn định kinh tế và cả góp phần lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngân hàng, phải xử lý cục nợ xấu hiện rất lớn, rất nghiêm trọng.
Đặt và giải được bài toán này sẽ tạo ra lợi ích chung cho tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó có cả BĐS. Kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính ngân hàng lành mạnh hơn, niềm tin của thị trường, nhà đầu tư quay trở lại.
Đó cũng là cơ sở để lãi suất hạ, khả năng tiếp cận tín dụng tăng lên, qua đó thúc đẩy đầu tư và sản xuất kinh doanh. Đấy là cái mà chúng ta đang cố gắng làm. Khi ấy, toàn bộ nền kinh tế được hưởng, trong đó có BĐS.
Cùng với đó, chúng ta cũng đặt vấn đề hỗ trợ thị trường, hỗ trợ sản xuấtt kinh doanh. Cách làm là tạo dựng môi trường chính sách, thể chế cố gắng mang tính hỗ trợ chung, phạm vi rộng và lan tỏa cao. Ví dụ giãn, giảm, miễn thuế cho các doanh nghiệp. Hay là tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng. Đây vừa là nút thắt cần tháo gỡ cho phát triển dài hạn, vừa dễ có tính lan tỏa cao đối với ngành xây dựng, với nhiều doanh nghiệp. Tiếp đó là hỗ trợ nhóm người nghèo, yếu thể, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, qua đó cũng góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Việt Nam chọn cách hỗ trợ phần nào đó về tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển hạ tầng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Cách thức can thiệp vào thị trường BĐS cũng như vậy. Bên cạnh biện pháp chung, đây cũng là thời điểm tạo điều kiện cho nguời thu nhập trung bình thấp trở xuống có điều kiện tiếp cận nhà ở (thuê, mua,..). Ý đồ của gói cho vay lãi suất thấp, dài hạn 30.000 tỷ đồng là như vậy. Nó cũng có hiệu ứng kích cầu, góp phần ít nhiều làm “ấm” một phân khúc BĐS. Cũng có thể có một số cơ chế tài chính khác tập trung vào phân khúc nhà phổ thông. Song ở đây không nhằm thật cụ thể ai trong BĐS; người mua, thị trường sẽ lựa chọn anh biết cạnh tranh, anh tốt..
Như vậy, cách giải quyết là vừa xử lý khó khăn trước mắt song phải nằm trong vấn đề phát triển hiệu quả trong dài hạn. Còn phải cả bắt tay vào tái cấu trúc nền kinh tế. Nhìn cái tổng thể, cái lâu dài, rồi gắn với cái trước mắt. Với thị trường BĐS cũng vậy; hướng giải quyết phải trên cách hiểu về BĐS, đánh giá tiềm năng ra sao, méo mó, rủi ro hiện nay thế nào.
Lựa chọn giải pháp, cách thức xử lý tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay đã hoàn hảo, tối ưu chưa? Câu trả lời tất nhiên là chưa! Đó là chưa nói đến những tranh luận có tính kỹ thuật.
Ví dụ về câu chuyện gói 30.000 tỷ đồng nêu trên; lãi suất cần thấp bao nhiêu theo thời gian? thời hạn cho vay nên 10, 15 năm hay lâu hơn? kích cầu vào loại nhà tính theo m2 hay giá cả? Chúng ta lại phải làm trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp, nhìn nhận xã hội khắt khe hơn. Ổn định vĩ mô, lành mạnh hóa hệ thống tài chính-ngân hàng có thể xem là một “hàng hóa công cộng” có tác động tích cực cả trong ngắn và dài hạn. Song xử lý lại phải gắn với “đại gia”, với “khúc xương” BĐS. Không thiếu tâm lý, bức xúc chính đáng là trước đây ông giàu, ông ăn, giờ ông khó khăn ông phải trả giá.
Rất cần minh bạch, giải trình cái giá bản thân các “ông chủ” phải trả, cách hỗ trợ và tác động có thể đến toàn bộ nền kinh tế cũng như các nhóm xã hội khác nhau. Kêt cục cần có là nhìn tổng thể, đó là vì cái chung để đưa nền kinh tế thoát khỏi khó khăn và đi lên.
Dẫu vậy, hướng đi trong xử lý đã được đặt ra và cũng khá phù hợp với nhiều lập luận có tính nguyên tắc và thực tiễn triển khai ở không ít quốc gia, có cả Việt nam trong quá khứ. Vấn đề là hành động cùng tiếp tục hoàn thiện giải pháp chính sách qua lắng nghe ý kiến đóng góp, phản hồi của thị trường. Mầm non về sự chuyển dịch vốn, nguồn lực trong hoạt động kinh tế, về cải thiện cách thức quản trị và xây dựng tầm nhìn, chiến lược phát triển và kinh doanh theo hướng hiệu quả, bền vững, dài hạn hơn, đã nhú. Đó là điều nền kinh tế Việt Nam mong đợi.
Câu chuyện về thị trường và các vấn đề BĐS rất đáng được mổ xẻ, tranh luận. Song tôi không đặt vấn đề ai đúng, ai sai, mà tôi muốn nói đến một “cuộc chơi” tổng thể, nhìn từ những nguyên lý căn bản đến một trường hợp cụ thể, một tình huống cụ thể đây là thị trường BĐS.
Dù có làm thế nào thì khó khăn nhất hiện nay là ta muốn nhiều thứ trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế suy giảm, không ít lĩnh vực đình đốn, nguồn lực lại hạn hẹp, xã hội đa chiều với nhiều bức xúc chính đáng. Rất cần sự minh bạch, quyết đoán, và trách nhiệm. Ý chí chính trị phải chuyển thành việc giải trình đàng hoàng và gắn với một thể chế thực thi được giám sát tốt.
Duyên Duyên (Thực hiện)
Theo Báo Đất Việt
Đầu năm mới, trao đổi với VietNamNet, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, năm 2013 phải là năm xoay chuyển trong tư duy phát triển. Việc này có thể sẽ phải trả bằng cái giá không rẻ và tốn nhiều thời gian để đổi lấy sự phục hồi và ổn định dài hạn.
TS Trần Đình Thiên
Cái giá của năm 2012
Ông đánh giá thế nào về năm 2012 với khởi đầu của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế?
TS Trần Đình Thiên: Tái cơ cấu kinh tế thực sự chưa làm được gì nhiều. Công việc đổi mới mô hình tăng trưởng cũng chưa có dấu ấn gì lớn cả, mặc dù chúng ta định làm thật sự.
Trái lại, nền kinh tế 2012 yếu đến mức gần như kiệt sức. Năm 2012 đã chịu "di chứng" của những bất ổn trong nền kinh tế vốn tồn tại từ 2007. Trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay, lạm phát lên xuống với biên độ dao động rất lớn trong khi tốc độ tăng trưởng GDP giảm đi rõ rệt. Thế nhưng, khi xử lý những vấn đề bất ổn đó thì lại hơi "quá liều". Đó có thể là việc lạm dụng các biện pháp hành chính hay như cú thắt chặt tiền tệ năm 2011, ép đưa đăng trưởng tín dụng đang từ 30%/năm xuống 10% khiến một nền kinh tế đang sống dựa chủ yếu vào việc bơm máu mà bỗng nhiên máu bơm ít hẳn đi, tốc độ lưu huyết thì chậm hẳn lại thì sẽ càng yếu hơn.
Thế nên, mới có nợ xấu, DN phá sản nhiều... Và mới có nhiều ý kiến bàn chuyện nền kinh tế hiện nay đã đến đáy hay chưa - hay còn có thể "thủng đáy"?
Thực ra, cái "đáy" hiện nay không nên chỉ nói đến kinh tế mà còn phải nói đến lòng tin. Người ta quen đếm sản lượng như tín dụng, xuất khẩu mà quên mất ẩn sau đó, linh hồn của kinh tế là lòng tin. Đôi khi, lòng tin đến điểm cực đại thăng hoa hoặc đến điểm bi quan rồi mới bộc lộ rõ. Đó cũng chính là sức mạnh kinh tế.
Nhìn lại năm 2012 thì phải nhìn vào tất cả con số đó cộng với trạng thái lòng tin. Tổ hợp cả hai cái đó sẽ giúp nhận diện rõ "đáy" kinh tế - xã hội của quá trình phát triển. Theo nghĩa đó, tôi cho rằng hết năm 2012, trạng thái kinh tế - xã hội của ta vẫn chưa chạm đáy.
Tuy nhiên, chúng ta đã kiềm chế lạm phát thấp hơn kỳ vọng, xuất siêu và tỷ giá thì ổn định. Ông có hài lòng về những điểm sáng ấy?
- Đó thực sự là những điểm sáng ở năm 2012, để từ đó hi vọng cho năm 2013. Nhưng phải nói rằng, chúng ta đạt kết quả đó bằng một cái giá không phải là rẻ.
Lạm phát xuống là tốt nhưng cái giá phải trả là rất lớn. Lượng tiền lưu thông, máu huyết bảo đảm cho cuộc sống của cơ thể kinh tế ít đi, lại chảy chậm hơn, DN phá sản nhiều, nền kinh tế tăng trưởng chậm lại.
Sau bao nhiêu năm nhập siêu thì xuất siêu đúng là mơ ước, là thành tích. Nhưng chúng ta từ nhập siêu hơn 10 tỷ USD của nhiều năm chuyển thành xuất siêu gần 1 tỷ USD trong khi tình hình kinh tế vẫn xấu đi thì chắc chắn là có cái gì đó bất thường, không tốt. Cái bất thường, không tốt đó chính là năng lực hấp thu đầu vào của nền kinh tế kém hẳn đi so với trước chứ không phải do sản xuất trong nước đã đủ thay thế được nhập khẩu, xuất khẩu vượt trội mà có xuất siêu.
Tôi không phủ nhận những thành tích của nền kinh tế 2012. Nhưng vẫn phải nói một cách công bằng rằng, để đạt được những mục tiêu tốt đẹp đó thì nền kinh tế đã phải trả giá rất lớn. Không được quên điều đó.
Xoay chuyển và sẵn sàng "trả giá"
Năm 2013, nền kinh tế có thể rút được bài học gì 2012?
Năm 2013 chắc chắn sẽ còn tiếp tục khó khăn và có thể, có nhiều mặt còn khó hơn năm 2012. Điều này buộc Chính phủ trong điều hành chính sách, khi đã đặt ra các mục tiêu thì phải luôn sẵn sàng chấp nhận "tính trả giá".
Đừng nhìn 2013 như năm 2012 hay như bất kỳ năm nào khác. Các năm trước, hầu như không có ngoại lệ, chúng ta đều tập trung cho mục tiêu ngắn hạn - cần đạt tăng trưởng bao nhiêu, lạm phát bao nhiêu?. Dù có đạt được chỉ tiêu nhưng vẫn chỉ là kết quả ngắn hạn từng năm một. Trong những năm đó, cơ sở của tăng trưởng cao, của lạm phát thấp bền vững, hiệu quả sử dụng vốn thế nào, sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế, v.v. ... ít tính đến. Hay có thể nói, chưa hành động theo hướng dài hạn, bền vững ấy.
Nếu không muốn không lặp lại những chuyện bất ổn vĩ mô, lạm phát cao lặp đi lặp lại, tăng trưởng thì theo xu hướng giảm tốc cần tư duy khác đi cho năm 2013. Năm nay cần là năm xoay chuyển lại cách nhìn cho tăng trưởng và phát triển.
Hiện, Chính phủ đang đặt mục tiêu cho năm 2013 tăng trưởng cao hơn và lạm phát thấp hơn năm 2012.
Quyết tâm của Chính phủ là những đòi hỏi của nền kinh tế. Nhưng phải tính thật kỹ. Chúng ta có những điều kiện nào để thực hiện mục tiêu đó? Cơ sở của tăng trưởng cao hơn là gì? Nếu không đủ điều kiện thì ta phải bổ sung cái gì, bù cái gì vào để đạt "tăng trưởng cao hơn" và "lạm phát thấp hơn"? Khi đó, nền kinh tế sẽ phải trả giá thế nào?
Rõ ràng nền kinh tế đang yếu mà đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế phải cao hơn năm ngoái thì chúng ta cần phải có nguồn lực nhiều hơn. Cấu trúc nền kinh tế vẫn chưa có nhiều thay đổi đâu, hiệu quả nguồn lực chưa có gì đảm bảo cả. Nguồn lực ở đâu ra khi doanh nghiệp "hy sinh" nhiều, tăng trưởng tín dụng thấp và "cục máu đông" nợ xấu vẫn đang gây tắc nghẽn quá trình lưu thông kinh tế?
Trong khi đó, để chống lạm phát, muốn lạm phát giảm thấp nữa thì phải siết chặt tiền chứ? Trong khi muốn tăng trưởng nhanh thì cần nhiều vốn hơn. Riêng 2 câu chuyện tăng trưởng - lạm phát trong tương đó là đã sinh chuyện xung đột rồi.
Ngoài ra, còn phải hỏi, còn những việc cần phải làm khác năm trước, những việc mà các năm trước "không phải làm" như giải quyết nợ xấu, hàng tồn kho, tái cấu trúc kinh tế..., năm nay không thể không làm, nhưng làm thì tiền sẽ ở đâu ra? Tôi chưa thấy rõ câu trả lời thật sự thuyết phục.
Cho nên, năm 2013, chưa nên vội tính ngay tăng trưởng, lạm phát là bao nhiêu. Mục tiêu quan trọng nhất ở năm 2013 là nền kinh tế cần phải xoay chuyển với những chỉ báo tốt nhất cho lòng tin. Điều đó sẽ tạo ra một mặt bằng mới, tạo cơ sở cho sự phục hồi. Giải quyết sớm mấy "cục máu đông", kích hoạt lưu thông nền kinh tế. Khi đó, sẽ có lòng tin, sẽ tính được tăng trưởng, lạm phát một cách có căn cứ. Và tôi nghĩ, thậm chí, còn có thể lạc quan hơn.
Giả dụ nền kinh tế vận hành theo logic vừa nói thì ngay cả khi, nếu tăng trưởng thấp hơn một chút, lạm phát cao hơn chút so với 2012 mà nền kinh tế có xoay chuyển tốt thì tôi vẫn cho là hơn. Nếu ngược lại, cho dù nền kinh tế có thể đạt được GDP cao hơn thì chắc chắn tình hình vẫn không vì thế mà được cải thiện căn bản. Đơn giản vì cơ sở tăng trưởng ổn định không có.
Vậy chúng ta sẽ phải xoay chuyển những gì ở năm 2013 để đảo ngược lại tình thế "chưa bền vững, bất ổn" trong những năm qua?
- Đầu tiên là câu chuyện nợ xấu. Kế đến là vấn đề hàng tồn kho, đặc biệt là tồn kho bất động sản. Kế tiếp là tái cơ cấu nền kinh tế, với các "trụ cột" như DNNN, ngân hàng, đầu tư công. Tất cả những việc đó không phải dễ làm.
Nhưng trong hàng loạt vấn đề đó, phải tính xử lý nợ xấu và tồn kho là 2 cục máu đông phải ưu tiên giải quyết. Nếu không thì nền kinh tế coi như tắc tị. Sau đó, mới tính chuyện năm nay, tăng trưởng thế nào, lạm phát như thế nào?
Nguồn lực nào cho tăng trưởng?
Với nguồn lực thì có hạn. Chúng ta sẽ phải làm thế nào khi chưa biết nguồn lực ở đâu ra?
Rõ ràng, việc nào cũng cần có nguồn lực cả. Thậm chí phải có nguồn tài lực rất lớn, nhiều tỷ đô la, và phải làm trong một số năm chứ không chỉ 1-2 năm. Muốn ưu tiên cho mục tiêu nào thì phải cần tiền cho mục tiêu đó. Nghĩa là phải bớt tiền chỗ khác ít ưu tiên hơn để bù vào. Hoặc phải kiếm nguồn lực khác bổ sung vào.
Muốn giải quyết nợ xấu, chúng ta sẽ phải có rất nhiều tiền. Chính phủ giao Ngân hàng phải tự giải quyết nhưng liệu ngân hàng có tự làm được không khi tất cả bây giờ đều có vấn đề. Nợ xấu là thuộc về doanh nghiệp, vay mà không trả thì ngân hàng sẽ tự giải quyết cách nào nếu như không có một lượng tiền giải tỏa, bơm lại cho doanh nghiệp?
Chúng ta cứ nói lập một công ty mua bán nợ AMC để giải quyết nợ xấu nhưng cho ra đời một thể chế, làm cho nó vận hành được không hề dễ.
Chúng ta có một tổng nguồn lực, một lượng tài lực xác định. Nghĩa là khi bỏ tiền vào giải quyết nợ xấu, chúng ta sẽ phải bớt tiền cho tăng trưởng đi. Hệ quả logic sẽ là: tăng trưởng bớt đi; đổi lại, nợ xấu sẽ được giải quyết một bước, nền kinh tế được kích hoạt.
Tuy nhiên, với nền kinh tế của ta hiện nay, vẫn có những cách rất hay để giải quyết cả vấn đề nợ xấu mà vẫn "kích hoạt" được tăng trưởng.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, chính quyền các cấp đang nợ doanh nghiệp hơi nhiều (nợ xây dựng cơ bản lên tới 91.000 tỷ đồng, trong đó, nợ xây dựng cơ bản đã hoàn thành nhưng dây dưa chưa được thanh toán cũng 30-35.000 tỷ). Năm 2013, nếu chính quyền cam kết sẽ trả món nợ này, không phải là 3 năm mà trong 1 năm thôi thì kết quả sẽ khác hẳn.
Thay vì Chính phủ dành tiền ấy trực tiếp để đạt mục tiêu tăng trưởng "cao hơn" mà dành cho trả nợ chẳng hạn, thì bản chất, dòng vốn ấy cũng chính là đi vào tăng trưởng. Nhưng trước khi đi vào tăng trưởng thì DN có tiền trả được nợ ngân hàng, nợ xấu được giải quyết, cục máu đông sẽ tan dần. DN lại có cơ hội tiếp cận được vốn để xử lý vấn đề tăng trưởng đang bị ách tắc do thiếu vốn.
Tôi cho rằng, bỏ tiền vào giải quyết nợ xấu, tồn kho thì còn có thể có tăng trưởng. Khi dân có lòng tin, nguồn lực trong dân sẽ khơi thông, người ta sẽ đổ tiền cho tăng trưởng. Mà đây mới thực sự là sự tăng trưởng thực, bền vững và hiệu quả.
Còn nếu quên xử lý những cục máu đông này mà cứ chỉ tập trung tiền cho tăng trưởng thì không chắc là sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng dự định, cũng không thể khơi động các nguồn lực trong dân cho chu trình tăng trưởng mới.
Nhắm mắt lại thì có thể nhìn thấy những điều không thấy khi mở mắt. Giảm đi thì có thể tăng lên. Đi chậm thì đến đích xa trước. Tôi tin vào nguyên lí đó. Năm 2013 cần một cách nhìn bình tĩnh là như vậy.
Vậy điều gì khiến ông lạc quan trong 2013?
Hiện quyết tâm của Chính phủ rất rõ ràng. Sự kiên trì trong cách hành động cũng đã được chứng tỏ. Tôi chưa quan tâm lắm đến việc đo lường tăng trưởng lạm phát bao nhiêu nhưng rõ ràng, Chính phủ đang muốn tập trung ưu tiên tạo lập ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó rất quan trọng vì nó tạo dựng lòng tin.
Chỉ có điều, cách phân phối, sử dụng nguồn lực, ưu tiên các mục tiêu như thế nào, tạo lòng tin ra sao và ai là người thực hiện thì phải cần thảo luận thêm.
Theo VEF
Năm 2013 tiếp tục là một năm đầy khó khăn cho thị trường bất động sản, tuy nhiên, cũng có nhiều cơ hội từ những ưu đãi từ chính sách.
![]() |
| Ông Phan Thành Mai |
Năm 2012 là năm doanh nghiệp BĐS, cũng như các ngành liên quan phải đối mặt với những vấn đề đặc biệt nghiêm trọng như tỷ lệ thất nghiệp cao, tồn hàng hóa lớn, thua lỗ,…Chiều hướng có thể xấu hơn trong năm 2013 và kịch bản có thể tiếp tục xấu trong 3-5 năm tới, nếu không có những giải pháp kịp thời.
Tuy nhiên, thị trường bất động sản không hẳn là toàn màu xám, bên cạnh những vấn đề xấu do hệ lụy từ việc phát triển nóng trong những năm qua để lại, thì trong thời gian qua các ban, bộ, ngành đã tích cực và chủ động có những giải pháp nhằm “phá băng” thị trường thời gian tới. Vì thế, sẽ vẫn có những cơ hội trong thị trường. Trao đổi với phóng viên, ông Phan Thành Mai, Tổng thư ký Hiệp hội BĐS Việt Nam có một số nhận định về triển vọng thị trường trong thời gian tới.
Ông đánh giá thê nào về triển vọng thị trường bất động sản năm 2013?
Ông Phan Thành Mai: Tiếp tục là 1 năm đầy khó khăn và thách thức đối với Thị trường BĐS. Tuy nhiên năm 2013 có nhiều cơ hội cho thị trường.
Các khó khăn đang hiện hữu là áp lực trả nợ hoặc đang là “con nợ xấu” của ngân hàng- đối với các doanh nghiệp phía Nam. Áp lực kiện tụng từ khách hàng- đối với các doanh nghiệp phía Bắc, thị trường không có đầu ra, hàng tồn kho cao (tỷ trọng chủ yếu với sản phẩm đang hiện hữu trên thị trường là trung, cao cấp).
Tại thời điểm quý 2/2012 con số hàng tồn kho từ 53 DN BĐS niêm yết tăng 143% so với cùng kỳ 2011, nợ ngắn hạn tăng 106% so với cùng kỳ, vay nợ tăng 118% so với cùng kỳ,…
Doanh nghiệp BĐS “kiệt sức” vì chịu đựng chi phí những năm qua phải duy trì hoạt động đang mất khả năng chi trả v.v.
Các cơ hội 2013 là chủ trương “tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường” của Chính phủ, các Bộ ban ngành qua chỉ thị 01/N1-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ đầu tháng 1 vừa qua. Theo đó, hướng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở bình dân diện tích nhỏ được nhiều cơ chế mở cửa và khuyến khích.
Theo ông, cơ hội nằm ở những giải pháp vừa rồi, tuy nhiên, phân khúc trung và cao cấp lại không được hỗ trợ nhiều trong khi lại chiếm 80% thị phần. Vậy theo ông, các chủ đầu tư phân khúc này cần phải làm gì cho năm 2013?
Ông Phan Thành Mai: Đối với các dự án lớn, chưa triển khai xây dựng, các chủ đầu tư cần nghiên cứu dịch chuyển một tỷ lệ dự án về nhà ở xã hội để có đầu ra và hưởng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ.
Một phần dự án cũng nên thay đổi chiến lược lựa chọn phân khúc sản phẩm bình dân, diện tích nhỏ, áp dụng công nghệ nhà giá rẻ … để phát triển và đưa sản phẩm mới ra thị trường.
Đối với các dự án đang triển khai xây dựng, cần nghiên cứu và làm việc các Ban ngành liên quan để có phương án chia nhỏ căn hộ về diện tích phù hợp dưới 70m2 và giảm chất lượng đầu tư hoàn thiện để giá bán có thể giảm tối đa về dưới 15trđ/m2, đưa ra nhiều chính sách sản phẩm để khách hàng có nhiều lựa chọn.
Từ đó các chủ đầu tư cần phối hợp các ngân hàng TM để có được các chính sách ưu đãi theo các gói hỗ trợ tín dụng người mua đã công bố.
Hiêp hội có kiến nghị giải pháp nào để tháo gỡ khó khăn cho DN?
Ông Phan Thành Mai: Thời gian qua Hiệp hội đã lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia về các kiến nghị đối với Ủy ban kinh tế Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ngành nhằm “tháo gỡ khó khăn hỗ trợ thị trường”. Các kiến nghị bao gồm các nguyên tắc xây dựng chính sách, cải cách thủ tục hành chính “một cửa” đặc biệt đối với các dự án thuộc đối tượng ưu đãi tại nghị quyết 02/NQ-CP;
Nên cho phép doanh nghiệp tự cân đối và lựa chọn tỷ lệ phù hợp với nhu cầu thị trường, từng khu vực, từng dự án vì việc quy định tỷ lệ căn hộ nhỏ, vừa và lớn theo tỷ lệ 1:2:1 không phù hợp với thực tế.
Chúng tôi cũng đã kiến nghị với NHNN tiếp tục hạ lãi suất cho vay về 8-10%/năm đối với các DN BĐS; các chính sách khuyến khích NHTM khi sử dụng trên 3% tổng dư nợ cho nhà ở xã hội; Đặc biệt sớm trình Chính phủ và các cơ quan liên quan để hiện thực hóa đề án xử lý nợ xấu ngân hàng thông qua công ty quản lý tài sản VAMC.
Với Bộ Tài chính, Hiệp hội cũng kiến nghị việc không đánh thuế 2 lần với quỹ Đầu tư BĐS một mô hình tương tự quỹ tín thác REITs quốc tế, tại nghị định 58/2012/NĐ-CP thông qua việc thuế doanh nghiệp bằng 0.
Phạm An
Theo CafeF
Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia Vũ Viết Ngoạn khi trao đổi về một số chính sách vĩ mô gần đây đã cho rằng: "Kích thích sản xuất, tiêu dùng là cần thiết, nhưng cần hết sức thận trọng, nhất là với lĩnh vực bất động sản".
- Đầu năm 2013, Chính phủ đã ban hành 2 nghị quyết. Trong khi Nghị quyết 01 thiên về ổn định kinh tế vĩ mô, thì Nghị quyết 02 thì lại tập trung vào những giải pháp hỗ trợ sản xuất tiêu dùng. Từ phía cơ quan giám sát tài chính, theo ông liệu 2 chủ trương này liệu có “lệch pha”?
![]() |
| Tiến sĩ Vũ Viết Ngoạn cho rằng kích cầu là cần thiết với kinh tế VN hiện nay. Ảnh: Nhật Minh |
- Trong quá trình tham gia để cho ra đời 2 Nghị quyết này, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã rất tích cực vào quá trình xây dựng của Chính phủ. Theo quan điểm của chúng tôi thì 2 nghị quyết này hết sức đồng bộ. Nghị quyết 01 cũng như hàng năm thì đều dựa trên nghị quyết của Quốc hội là đề ra những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Những định hướng lớn Chính phủ đều có một nghị quyết để triển khai thực hiện nhiệm vụ trong năm.
Với nghị quyết 02 thì vì năm nay có vấn đề nổi cộm ngay từ đầu năm nên phải tập trung giải quyết. Đó là doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn và cần phải có các giải pháp cũng như biện pháp để thúc đẩy thị trường, kích cầu nền kinh tế, làm tăng tổng cầu nền kinh tế.
Nghị quyết 02 thực ra là một cấu phần trong tổng thể chung của 01, cụ thể hóa hơn một số các biện pháp để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng hợp lý theo mục tiêu tăng trưởng phải cao hơn, lạm phát phải thấp hơn năm trước.
- Trong báo cáo triển vọng kinh tế thế giới toàn cầu mới được Ngân hàng thế giới (WB) công bố mới đây, họ cho rằng các nước đang phát triển như Việt Nam thì nên tập trung vào phần cung hơn là kích cầu. Trong khi ở Việt Nam lại đang tập trung tăng tổng cầu. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
- Báo cáo của WB là báo cáo chung về tổng thể của kinh tế thế, họ phân ra nền kinh tế phát triển và nền kinh tế mới nổi. Trường hợp của Việt Nam được đặt trong bối cảnh của các nền kinh tế mới nổi, ở chừng mực nào đó là tính chung trong khu vực ASEAN. Do đó, đây không phải là một đề xuất có tính chất chi tiết, cụ thể cho từng quốc gia.
Đối với Việt Nam, việc điều hành phải căn cứ vào tình hình chung của thế giới, khu vực và đặc biệt phải căn cứ vào tình hình cụ thể hiện nay để đưa ra giải pháp thích hợp. Trong điều kiện đó, nền kinh tế đang phải đối mặt với một loạt các mâu thuẫn. Một mặt vừa phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát do những dấu hiệu tiềm ẩn của nguy cơ lạm phát vẫn còn. Trong khi đó, doanh nghiệp lại đang gặp rất nhiều khó khăn, tiêu thụ khó khăn, tồn kho lớn.
Nguyên nhân của những vấn đề này là do tổng cầu thấp, kể cả cầu đầu tư hay tiêu dùng. Muốn tháo gỡ khó khăn này thì phải sưởi ấm tổng cầu nền kinh tế. Đây là thách thức rất lớn với Việt Nam.
- Một trong những giải pháp để kích thích tổng cầu được nhiều người nhắc đến gần là việc bơm tiền cho thị trường bất động sản. Ông nghĩ sao về giải pháp này?
- Đối với bất động sản, chúng ta thấy rất rõ thời gian gần đây cơ quan quản lý đã đưa ra một loạt các giải pháp. Nhưng theo quan điểm của tôi, chúng ta không nên hiểu Chính phủ bơm tiền ra cho thị trường này một cách tùy ý.
Biện pháp của Chính phủ khá cụ thể, chẳng hạn như đối tượng nào có nhu cầu về nhà ở thật thì sẽ quan tâm hỗ trợ để họ có điều kiện thực hiện mục đích của mình một cách hợp lý. Ví dụ, nhà ở xã hội đang được xác định phân khúc thị trường này là thiết thực vì nhiều người hiện nay đang thiếu nhà ở và có nhu cầu thực sự chứ không phải là đầu cơ.
Hình thức hỗ trợ ở đây có thể là cho vay tiền với lãi suất thấp và kỳ hạn dài để phù hợp với khả năng của người mua. Nếu làm được điều này thì đây cũng là một cách sưởi ấm lại thị trường. Tuy nhiên, giải quyết vấn đề này cần phải có thời gian chứ khổng thể làm trong một thời gian ngắn. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện thì vẫn tiếp tục theo dõi, nghe ngóng tín hiệu từ thị trường, tránh việc gây ra các tác động phụ.
Tôi muốn nhấn mạnh là dù tín dụng có được đưa ra để hỗ trợ thì Ngân hàng Nhà nước cũng phải rất thận trọng, tiền cung ứng nhưng với mức độ như thế nào là hợp lý. Khi nào thị trường có dấu hiệu thay đổi thì lập tức phải có giải pháp để hút tiền về để tiếp tục thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát.
- Vậy ông dự đoán như thế nào về xu hướng lãi suất năm nay?
- Theo chỉ đạo của Chính phủ là phải đưa lạm phát thấp hơn năm 2012, xung quanh ở mức 6%. Nếu lạm phát kiểm soát 6% thì lãi suất có thể tiếp tục giảm xuống được. Lãi suất huy động giảm thì đương nhiên lãi suất cho vay cũng sẽ giảm theo. Việc đưa lãi suất giảm cũng đang là nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống hiện nay.
Tại Hội nghị Tổng kết 5 năm hoạt động của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, ngày 23/1, vấn đề vai trò của cơ quan này trong quá trình giám sát các thị trường ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm… một lần nữa được đặt ra. Lãnh đạo Ủy ban cho biết do chỉ ra đời và hoạt động dựa trên một quyết định của Thủ tướng nên địa vị pháp lý của Ủy ban, trong nhiều trường hợp, chưa thực sự đáp ứng đủ yêu cầu thu thập thông tin, giám sát và cảnh báo đối với các cơ quan quản lý trên thị trường.
Chia sẻ với những bất cập này, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh nhất trí với quan điểm Việt Nam cần có một mô hình giám sát tập trung đối với thị trường tài chính, thay vì phân tán tại các bộ, ngành. Tuy nhiên, đồng tình với ý kiến của nguyên Chủ tịch Ủy ban - Lê Đức Thúy, Phó thủ tướng yêu cầu Ủy ban Giám sát cần tham gia, đóng góp tích cực hơn nữa vào quá trình giám sát, xây dựng các chính sách, khuôn khổ cho thị trường tài chính Việt Nam, trước khi có được một vị trí pháp lý rõ ràng hơn, như hoạt động của các cơ quan tương tự tại Anh, Nhật…
Theo Vnexpress
![]() |
| Chủ tịch HĐQT CTy CP ĐT Sông Hồng (Tổng cty Sông Hồng)- Nguyễn Thế Điệp. |
Chủ tịch HĐQT Cty CP đầu tư Sông Hồng (Tổng cty Sông Hồng)- Nguyễn Thế Điệp nhận định, thời gian này chính là cơ hội tốt để mua nhà bởi, “khi bộ phận này yếu đi, bộ phận khác sẽ dâng lên. Đó là quy luật”.
Mới đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vừa thông tin tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế, xã hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dư nợ trong BĐS là 1 triệu tỷ đồng, chiếm 5% tổng dư nợ. Theo ông, chúng ta cần giải quyết dư nợ “khổng lồ” này thế nào?
Bản chất của thị trường BĐS Việt Nam là rất non trẻ nhưng lại rất quan trọng với nền kinh tế. Nếu BĐS chết sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế nên việc tháo gỡ khó khăn cho BĐS là quan tâm số 1. Muốn quan tâm phải có giải pháp đồng bộ chứ không thể nói khơi khơi là anh bán rẻ rồi. Đấy chỉ là giải pháp nhỏ, lẻ cho tất cả các phân khúc thôi. Cần phải thay đổi chính sách, đường lối, chủ trương mới tháo gỡ được khó khăn thanh khoản.
Vĩ lẽ đó, cần giải quyết, tháo gỡ mang tính vĩ mô. Thời gian qua, Chính phủ có những giải pháp quyết liệt nhưng chưa đủ làm tăng thanh khoản BĐS. Muốn làm tăng thanh khoản BĐS thì phải gắn với ngân hàng (NH), vì NH là công cụ của nền kinh tế. Nếu vẫn để nợ xấu trong NH thì không thể tháo gỡ được. Khi Nhà nước bơm tiền vào nó cũng không ngấm được ra ngoài, bởi nó chỉ quanh quẩn thanh toán nợ xấu của nó thôi thì đã hết.
Vừa rồi, Nhà nước có bơm ra nền kinh tế bao nhiêu nghìn tỷ ấy cũng không nghĩa lý gì. Nếu có thanh khoản, khi xã hội có 10 đồng, nó quay 5 vòng thì có 50 đồng; nhưng nếu mất thanh khoản, xã hội có 10 đồng, nó quay 0,2 lần thì không bằng giá trị 1/5 dòng tiền đưa ra thị trường để ngấm vào nền kinh tế.
Ngoài nỗ lực của Nhà nước, các DN có thể tự cứu mình vượt qua khủng hoảng này không?
Bước sang một giai đoạn mới của BĐS, các DN phải tự nhìn nhận lại mình, đổi mới tư duy, phải chấp nhận cho những DN không chuyên nghiệp ra đi. Các DN hãy coi đây như sự vấp ngã. Vấp ngã ở tuổi còn non trẻ nên làm lại không có gì ghê ghớm mà sẽ mang lại bản lĩnh chuyên nghiệp hơn. Các DN sẽ có cơ hội thay đổi tư duy về cung – cầu. Ngày trước, các DN cứ xây ra là bán được. Bây giờ giai đoạn ấy hết rồi. Nay nhu cầu xã hội cần gì thì mới bán được. Cung - cầu bước sang giai đoạn mới. Đó mới là bản lĩnh BĐS trong tương lai.
Ông có nhận định gì về thị trường BĐS trong những tháng cuối năm và năm 2013?
Nếu không giải quyết được nút thắt, mạch máu của nền kinh tế thì cố mấy cũng vô ích và mãi mãi xấu đi. Hiện nay, một số DN còn đứng được nhưng một vài tháng nữa, tiền không ngấm vào nền kinh tế, các công trình dở dang không triển khai được thì đổ bao nhiêu tiền vào nền kinh tế này cũng vô ích nên càng bơm sẽ càng chết, càng ảm đạm. Hiện nay ta đang đứng trước tình trạng rẻ cũng không bán được rồi vì thị trường đã mất niềm tin.
Ông nghĩ sao khi các ý kiến cho rằng chưa nên mua nhà lúc này vì BĐS chưa xuống tận đáy?
Nếu chính sách đất đai cứ thế này thì nó đang xuống quá đáy. Hiện, các nhà thầu đang bán dưới giá thành vì có áp lực phải trả nợ. Hoặc là giảm giá thành vì đã giảm chất lượng. Thế nên, việc xuống giá không phải là tốt. Khi thị trường mất niềm tin thì sẽ bị thê thảm, bị sốc nên sẽ không có đáy tiếp theo. Nếu xuống thì nó chỉ là giải pháp của vài DN thôi.
Nhưng một số chuyên gia lại cho rằng BĐS còn xuống vì nó chưa phải đáy bền vững?
Bền vững hay không phải nhìn nhận mang tính logic vấn đề. Bền vững phải là cả một nền kinh tế vĩ mô mang tính ổn định lâu dài. Muốn BĐS phát triển cần có khuyến khích mang tính đầu tư. Ví dụ: về tiền tệ, NH là mạch máu của nền kinh tế và là một DN đặc biệt - đó là công cụ nền kinh tế. Nếu công cụ này yếu thì ảnh hưởng đến nền kinh tế ngay. Thế nên, cần tập trung vào 2 vấn đề chính sách và tiền tệ.Cứu NH là cứu DN. Nợ xấu của NH là nợ xấu của DN.
Đây là thời gian cho người có nhu cầu thực mua nhà. Khi bộ phận này yếu đi, bộ phận khác sẽ dâng lên.Đó là quy luật. Nhu cầu thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên chứ không phẳng lặng thế này bởi tại Hà Nội và Tp.HCM, mỗi năm cần vài chục nghìn căn hộ. Với tốc độ phát triển như vậy nên hiện nay tồn kho vài ba chục nghìn căn hộ là rất nhỏ. Chỉ cần một chính sách hợp lý, lập tức tồn kho hết sạch. Mỗi năm, lượng kiều hối đổ vào Việt Nam khoảng 15 tỷ USD đầu tư dài hạn. Đó là nguồn lực cực kỳ lớn mà ta chưa nhìn nhận hết. Đó mới là đầu tư lâu dài, cơ bản, còn NH và các quỹ đầu tư chỉ đầu tư ngắn hạn thôi. Tức là khi nhìn thấy lợi nhuận người ta mới cho vay. Các nhà đầu tư BĐS có lượng kiều hối nhất định đang thèm khát thị trường Việt Nam. Ta chỉ khơi dậy đúng dòng chảy vào thôi cũng thắng lớn rồi. Thế nên, cần có chính sách mang tính định hướng.
Thị trường BĐS không có gì là bi đát, chỉ đang hụt hẫng, đang bị mất niềm tin của NĐT thứ cấp. Nhưng khi ta khơi đúng và xây dựng chính sách chuẩn thì thị trường lại phát triển bình thường.Ví dụ: dòng tiền chảy vào bản chất là chứng khoán (CK) sơ cấp. Khi nhiều người chơi CK thì đất nước ấy mới phát triển, còn ko biết đánh CK thì không lên được. Thực ra nó là hình thức người giàu góp vốn cho người tài làm ăn thì sẽ hơn là vay NH. Nên chúng ta phải khơi đúng nguồn đó và đưa ra chính sách phù hợp, khuyến khích được người đầu tư hơn nữa, tập hợp tất cả các nguồn lực, có kiểm tra kiểm soát và có luật để người đầu tư không mất tiền thì sẽ tốt đẹp thôi.
Vĩ lẽ đó, cần giải quyết, tháo gỡ mang tính vĩ mô. Thời gian qua, Chính phủ có những giải pháp quyết liệt nhưng chưa đủ làm tăng thanh khoản BĐS. Muốn làm tăng thanh khoản BĐS thì phải gắn với ngân hàng (NH), vì NH là công cụ của nền kinh tế. Nếu vẫn để nợ xấu trong NH thì không thể tháo gỡ được. Khi Nhà nước bơm tiền vào nó cũng không ngấm được ra ngoài, bởi nó chỉ quanh quẩn thanh toán nợ xấu của nó thôi thì đã hết.
Vừa rồi, Nhà nước có bơm ra nền kinh tế bao nhiêu nghìn tỷ ấy cũng không nghĩa lý gì. Nếu có thanh khoản, khi xã hội có 10 đồng, nó quay 5 vòng thì có 50 đồng; nhưng nếu mất thanh khoản, xã hội có 10 đồng, nó quay 0,2 lần thì không bằng giá trị 1/5 dòng tiền đưa ra thị trường để ngấm vào nền kinh tế.
Ngoài nỗ lực của Nhà nước, các DN có thể tự cứu mình vượt qua khủng hoảng này không?
Bước sang một giai đoạn mới của BĐS, các DN phải tự nhìn nhận lại mình, đổi mới tư duy, phải chấp nhận cho những DN không chuyên nghiệp ra đi. Các DN hãy coi đây như sự vấp ngã. Vấp ngã ở tuổi còn non trẻ nên làm lại không có gì ghê ghớm mà sẽ mang lại bản lĩnh chuyên nghiệp hơn. Các DN sẽ có cơ hội thay đổi tư duy về cung – cầu. Ngày trước, các DN cứ xây ra là bán được. Bây giờ giai đoạn ấy hết rồi. Nay nhu cầu xã hội cần gì thì mới bán được. Cung - cầu bước sang giai đoạn mới. Đó mới là bản lĩnh BĐS trong tương lai.
Ông có nhận định gì về thị trường BĐS trong những tháng cuối năm và năm 2013?
Nếu không giải quyết được nút thắt, mạch máu của nền kinh tế thì cố mấy cũng vô ích và mãi mãi xấu đi. Hiện nay, một số DN còn đứng được nhưng một vài tháng nữa, tiền không ngấm vào nền kinh tế, các công trình dở dang không triển khai được thì đổ bao nhiêu tiền vào nền kinh tế này cũng vô ích nên càng bơm sẽ càng chết, càng ảm đạm. Hiện nay ta đang đứng trước tình trạng rẻ cũng không bán được rồi vì thị trường đã mất niềm tin.
Nếu chính sách đất đai cứ thế này thì nó đang xuống quá đáy. Hiện, các nhà thầu đang bán dưới giá thành vì có áp lực phải trả nợ. Hoặc là giảm giá thành vì đã giảm chất lượng. Thế nên, việc xuống giá không phải là tốt. Khi thị trường mất niềm tin thì sẽ bị thê thảm, bị sốc nên sẽ không có đáy tiếp theo. Nếu xuống thì nó chỉ là giải pháp của vài DN thôi.
Nhưng một số chuyên gia lại cho rằng BĐS còn xuống vì nó chưa phải đáy bền vững?
Bền vững hay không phải nhìn nhận mang tính logic vấn đề. Bền vững phải là cả một nền kinh tế vĩ mô mang tính ổn định lâu dài. Muốn BĐS phát triển cần có khuyến khích mang tính đầu tư. Ví dụ: về tiền tệ, NH là mạch máu của nền kinh tế và là một DN đặc biệt - đó là công cụ nền kinh tế. Nếu công cụ này yếu thì ảnh hưởng đến nền kinh tế ngay. Thế nên, cần tập trung vào 2 vấn đề chính sách và tiền tệ.Cứu NH là cứu DN. Nợ xấu của NH là nợ xấu của DN.
Đây là thời gian cho người có nhu cầu thực mua nhà. Khi bộ phận này yếu đi, bộ phận khác sẽ dâng lên.Đó là quy luật. Nhu cầu thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên chứ không phẳng lặng thế này bởi tại Hà Nội và Tp.HCM, mỗi năm cần vài chục nghìn căn hộ. Với tốc độ phát triển như vậy nên hiện nay tồn kho vài ba chục nghìn căn hộ là rất nhỏ. Chỉ cần một chính sách hợp lý, lập tức tồn kho hết sạch. Mỗi năm, lượng kiều hối đổ vào Việt Nam khoảng 15 tỷ USD đầu tư dài hạn. Đó là nguồn lực cực kỳ lớn mà ta chưa nhìn nhận hết. Đó mới là đầu tư lâu dài, cơ bản, còn NH và các quỹ đầu tư chỉ đầu tư ngắn hạn thôi. Tức là khi nhìn thấy lợi nhuận người ta mới cho vay. Các nhà đầu tư BĐS có lượng kiều hối nhất định đang thèm khát thị trường Việt Nam. Ta chỉ khơi dậy đúng dòng chảy vào thôi cũng thắng lớn rồi. Thế nên, cần có chính sách mang tính định hướng.
Thị trường BĐS không có gì là bi đát, chỉ đang hụt hẫng, đang bị mất niềm tin của NĐT thứ cấp. Nhưng khi ta khơi đúng và xây dựng chính sách chuẩn thì thị trường lại phát triển bình thường.Ví dụ: dòng tiền chảy vào bản chất là chứng khoán (CK) sơ cấp. Khi nhiều người chơi CK thì đất nước ấy mới phát triển, còn ko biết đánh CK thì không lên được. Thực ra nó là hình thức người giàu góp vốn cho người tài làm ăn thì sẽ hơn là vay NH. Nên chúng ta phải khơi đúng nguồn đó và đưa ra chính sách phù hợp, khuyến khích được người đầu tư hơn nữa, tập hợp tất cả các nguồn lực, có kiểm tra kiểm soát và có luật để người đầu tư không mất tiền thì sẽ tốt đẹp thôi.
Theo Khám phá
Đó là nhận định của Chủ tịch HĐQT, TGĐ Tasco Phạm Quang Dũng. Ông Dũng quan niệm thất bại là tài sản, lỗi lầm cũng là tài sản. Tự doanh nghiệp phải chủ động chuyển hướng chứ nếu cứ trông chờ vào chính sách thì sẽ lại tiếp tục mất tiền.
Với ông Phạm Quang Dũng - Chủ tịch HĐQT, TGĐ Công ty cổ phần TASCO, sức mạnh doanh nghiệp và giá trị thương hiệu TASCO nằm ở chính việc "giữ lửa" cho đội ngũ nhân sự. Vì thế, hình ảnh ông cùng tập thể dục với nhân viên trở nên quen thuộc ở TASCO.
Gần đây, ông Phạm Quang Dũng xuất hiện ở đâu cũng nhắc đến câu chuyện quản trị nhân sự. Với ông, nếu không giải quyết được bài toán này thì tất cả những điều khác sẽ trở nên vô nghĩa. Vậy nên khi gặp được ông, tôi không thể không có chút tò mò về chiến lược quản trị nhân sự ở TASCO.
- Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, hầu hết lo lắng về dòng tiền thì vì sao ông lại đặc biệt quan tâm tới câu chuyện quản trị nhân sự đến thế?
Những nhà kinh doanh ở Việt Nam hầu như không được học bài bản về quản trị kinh doanh nói chung và quản trị nhân sự nói riêng. Ngay cả những giáo trình giảng dạy về quản trị nhân sự đến nay cũng chỉ quản trị theo phương pháp thống kê, về chế độ lương thưởng mà không được cập nhật phù hợp với thực tiễn. Khi doanh nghiệp bắt đầu tái cấu trúc tôi đã xác định rằng, muốn xây dựng được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường thì phải có hệ thống quản trị nhân sự bài bản, với hệ thống đánh giá, phân loại, đo lường cụ thể. Có thế mới giữ được người tài. Thế là chúng tôi đi tìm tư vấn, nhưng hành trình này cũng lắm gian nan. Từ năm 2004 đến 2007, TASCO đã vứt bao nhiêu tiền qua cửa sổ mà không thu lại được hiệu quả. Sau 4,5 lần tư vấn, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được một tư vấn phù hợp, tư vấn tổng thể từ chiến lược kinh doanh đến chiến lược nhân sự. Đến lúc có được hệ thống quản trị nhân sự phù hợp rồi mới thấy tiết kiệm được rất nhiều chi phí.
- Cụ thể là tiết kiệm được bao nhiêu, thưa ông?
Tôi chắc chắn là có thể tiết kiệm được khoảng 30% quỹ lương mỗi năm.
- Quan tâm nhiều đến hệ thống nhân sự như thế, chắc là trước đó TASCO cũng đã gặp nhiều rủi ro từ khâu con người?
Vấn đề nhân sự quả là đau đầu, vì không có hệ thống quản trị tốt thì lãng phí đủ đường. Lãng phí từ khâu tuyển người không phù hợp rồi đến việc đãi ngộ, vì không có chỉ tiêu đánh giá nên không có chính sách đãi ngộ phù hợp, thế nên người giỏi thì lần lượt ra đi còn người kém thì ở lại. Còn một lãng phí rất lớn nữa là ở khâu đào tạo. Lãnh đạo các công ty thành viên cũng từng có phong trào cho nhân viên đi đào tạo thạc sỹ, nhưng về lại chẳng áp dụng được bao nhiêu, vì không phải vị trí nào cũng cần trình độ thạc sỹ. Thế là liên tục mất tiền. Đấy là lý do mà đến nay, gặp doanh nghiệp nào tôi cũng khuyên hãy xây dựng chiến lược quản trị nhân sự, nhưng họ không nhìn ra. Đó cũng là một vấn đề của doanh nghiệp Việt...
- Bên cạnh hệ thống quản trị như ông vừa nói thì văn hóa doanh nghiệp cũng là điều được TASCO chú trọng xây dựng từ rất sớm, vì sao vậy, thưa ông?
Văn hóa là sức mạnh của doanh nghiệp. Trước đây, các doanh nghiệp vẫn thường chỉ đánh giá sức mạnh dựa trên số lượng nhân sự hoặc các chỉ tiêu tài chính như vốn điều lệ, lợi nhuận. Nhưng như thế là không nhìn thấy hết giá trị thực sự của doanh nghiệp. Hiện nay, người ta đánh giá các doanh nghiệp trên thế giới không phải qua chỉ tiêu tài chính nữa mà dựa trên Văn hóa Doanh nghiệp. Văn hóa Doanh nghiệp là vốn văn hóa, các nghi thức, định chế, quy trình của mỗi doanh nghiệp, có thể ở dạng thành văn hoặc bất thành văn. Và những yếu tố đó chỉ trở thành văn hóa khi nhân viên thành thục, tự giác thực hiện và trở thành một phần bản năng.
- Để thực hiện được điều đó quả là không dễ dàng, vậy TASCO mất bao lâu để xây dựng, thưa ông?
Câu chuyện Văn hóa Doanh nghiệp cũng gian nan lắm, nhưng chúng tôi quyết tâm xây dựng bằng được. Ngay từ giai đoạn bắt tay vào làm doanh nghiệp từ những năm 90 ở Nam Định, tôi đã triển khai rồi. Đến nay thì mọi thứ đã đi vào nề nếp, tất cả mọi người đều tham gia với tinh thần tự giác, vui vẻ, đơn giản như việc giao ban đúng vào đầu giờ rồi sau đó đến 10 giờ là ra xếp hàng thể dục, hát hò, thư giãn, gửi đến nhau những lời chúc tốt đẹp để giải tỏa căng thẳng… Đấy, tất cả đều là Văn hóa Doanh nghiệp của TASCO.
- Và có phải TGĐ Phạm Quang Dũng cũng là một thành viên rất tích cực trong nếp sinh hoạt này?
Đúng vậy, mình phải là người khơi dậy tinh thần trong mỗi nhân viên, hơn nữa, đó cũng là cách tạo niềm vui cho bản thân. Tôi nhảy cùng họ, hát cùng họ rồi còn tham gia vào phong trào đào tạo học hành của công ty nữa. Mỗi cán bộ quản lý cấp cao ở TASCO đều phải là một người thầy. Suy cho cùng, bản chất của cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là cuộc cạnh tranh về con người. Doanh nghiệp nào có chính sách thu hút tốt và giữ được người tài thì doanh nghiệp đó nắm phần lớn cơ hội thành công.
Áp lực càng lớn, sức khỏe càng tốt
- Nhưng tại sao trong bối cảnh đa phần các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bất động sản, phải tính đến những vấn đề sống còn như bán sản phẩm thế nào, trả nợ ngân hàng ra sao… thì TASCO lại chủ yếu nói về vấn đề quản trị nhân sự, thưa ông? Phải chăng là TASCO nằm ngoài cuộc khủng hoảng này?
Chúng tôi cũng phải lăn ra đi bán hàng, tiếp cận thị trường để tìm kiếm cơ hội đấy chứ. Hai việc đó phải thực hiện song song, bởi vì câu chuyện xây dựng hệ thống quản trị nhân sự bản chất là vấn đề xây dựng năng lực cạnh tranh. Còn cứ mải kinh doanh mà bỏ quên hệ thống quản trị, đến lúc quay lại thì bộ máy lại gặp vấn đề lớn. Ở bất cứ thời điểm nào, chi cho nhân sự cũng là một khoản đầu tư rất quan trọng và quản trị nhân sự là quản trị tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp.
- Trong 2 năm trở lại đây khi thị trường Bất động sản gặp khó thì TASCO bị ảnh hưởng như thế nào, thưa ông?
Thực tế, chúng tôi cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Điều may mắn là chúng tôi có hai sản phẩm truyền thống để cầm cự trong giai đoạn khó khăn này. Đầu tiên, đó là thầu xây dựng, sản phẩm này giúp chúng tôi nuôi sống được bộ máy hàng trăm con người qua cơn sóng gió. Tất nhiên, tốc độ xây dựng và thị phần đầu tư xây dựng cũng giảm nhiều, nhưng chúng tôi có lợi thế nhờ thương hiệu nhiều năm làm thầu xây dựng cho các công trình lớn. Sản phẩm truyền thống thứ hai của TASCO là bất động sản, chúng tôi cung ứng cái thị trường cần, đó là phân khúc sản phẩm trung bình, với diện tích khoảng 35 – 40 mét vuông, mức giá từ 500 – 700 triệu đồng một căn. Còn những phân khúc khác thì phải rút, rút thật nhanh.
- TASCO đã nhìn thấy dấu hiệu trên thị trường để quyết định rút nhanh từ khi nào, bởi thực tế có rất nhiều doanh nghiệp khi quyết định rút thì tổn thất cũng đã quá lớn rồi?
Vấn đề là phải có thông tin. Thông tin từ kinh tế vĩ mô, từ kinh tế các nước xung quanh và thế giới, biết được nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng đến mức nào, khả năng phục hồi ra sao. Nhiều doanh nghiệp có cảm giác bất ổn đấy, nhưng vẫn cứ chờ đợi cơ hội một cách mơ hồ. Còn chúng tôi xác định, đây là khó khăn trong dài hạn. Cuối 2011 chúng tôi đã có chính sách chuyển hướng sản phẩm và đến đầu 2012 bắt đầu triển khai, cùng với đó là quá trình tái cấu trúc bộ máy cho phù hợp với chiến lược mới này.
- Dài hạn trong quan điểm của ông là bao lâu?
Để khôi phục được như cũ, thị trường bất động sản phải cần đến 10 năm. Còn doanh nghiệp phải chịu đựng khó khăn thêm ít nhất cũng là 5 năm và nhiều là 7 năm.
- Cách đây không lâu, mọi người thấy bên cạnh tên gọi TASCO có nhận diện thương hiệu mới với dòng chữ TARIC, nghe thì có vẻ không liên quan lắm, tại sao vậy, thưa ông?
Có liên quan đấy, TARIC nghĩa là TASCO giàu có (rich). Thực ra, do chúng tôi chậm chân trong đăng ký bản quyền công nghệ cho thương hiệu TASCO nên cuối cùng phải đổi thành TARIC (cười).
- Cuộc khủng hoảng vừa qua rõ ràng gây ra những tổn thất không hề nhỏ, nhưng nhìn nhận ở góc độ khác, ông có nghĩ là Doanh nghiệp Việt cũng được điều gì đó sau cuộc khủng hoảng này không?
Cái được lớn nhất chính là bài học rút ra. Nhiều người cho rằng, thất bại, lỗi lầm cũng là tài sản. Tôi cũng đồng tình với quan điểm đó. Tài sản đó sẽ là bài học quý giá cho doanh nhân để biết cách kinh doanh tỉnh táo và thận trọng hơn. Rõ ràng là thời gian vừa qua, hầu hết các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cá nhân đều ít nhiều tham gia vào thị trường bất động sản và đều bị mất tiền. Đây cũng chính là lần đầu tiên chúng ta ứng phó với khủng hoảng thực sự của nền kinh tế thị trường nên chưa có kinh nghiệm. Sau một chu kỳ tăng trưởng nóng, lạm phát lên đến hai con số, vậy mà doanh nghiệp vẫn đổ xô đi mua dự án, đi đầu tư, đó là một sai lầm.
- Vậy trong lúc thiên hạ đổ xô đi đầu tư như thế, ông bị cuốn theo không ạ?
Tôi cũng như họ thôi, nhưng nhờ biết rút nhanh nên tổn thất đỡ nặng nề. Thực ra lúc ấy, những doanh nghiệp khôn là biết cách chuyển thật nhanh về tiền mặt.
- Vậy tức là ông cũng có kha khá "tài sản" rồi?
Đúng, thất bại đó là một khối tài sản lớn để đúc kết và rút ra bài học cho mình. Tự doanh nghiệp phải liệu được tình hình để chủ động chuyển hướng chứ nếu cứ trông chờ vào chính sách thì những lần sau sẽ lại tiếp tục mất tiền.
- Tôi thấy ông lúc nào cũng vui vẻ và nói chuyện rất hứng khởi. Bằng cách nào mà ông giữ được tâm thế bình thản trong bối cảnh khó khăn này?
Thực ra lúc nào cũng có áp lực cả. Lúc này tôi cũng đang chịu áp lực đấy chứ, nhưng cũng thành quen. Thậm chí, áp lực càng nhiều thì sức khỏe càng tốt, áp lực rèn luyện cho người ta sự dẻo dai và sức chịu đựng. Làm doanh nhân là phải sẵn sàng đối diện với những áp lực đó, khó khăn trong kinh doanh luôn luôn hiện hữu mà doanh nghiệp không lường hết được. Người ta đã tính toán rồi, trên thế giới cứ 100 doanh nghiệp gia nhập thị trường thì sau 5 năm chỉ còn 10; 5 năm tiếp theo chỉ còn lại một tồn tại được thôi. Hơn nữa là người đứng đầu, mình phải giữ được tinh thần lạc quan, vui vẻ để nhân viên còn trông vào và có niềm tin.
- Dạo này, thấy doanh nhân Phạm Quang Dũng xuất hiện trên nhiều diễn đàn với tư cách một diễn giả, có phải ông đang chuẩn bị làm thêm nghề diễn giả nữa?
Thực ra, trải qua nhiều thất bại và thành công, tôi cũng thu được một chút kinh nghiệm, kiến thức và muốn chia sẻ với mọi người để họ có thể rút ngắn quãng đường đi đến thành công, cũng như tránh được những cái sai mà tôi đã vấp phải. Vì tôi đã phải trả giá rất đắt từ việc chọn chiến lược ngành nghề, mô hình quản lý, quản trị nhân sự nên càng có nhiều điều để chia sẻ. Người ta bảo, nếu muốn thành công phải chơi với người thành công và chọn cho mình một người thầy. Ngày trước tôi không biết điều này nên cứ thế vấp ngã, để đời dạy mình thôi. Chia sẻ cũng mang lại cho mình những niềm hạnh phúc rất đặc biệt. Cho càng nhiều thì nhận được càng nhiều, tôi sẵn sàng chia sẻ, nhưng vấn đề là họ nghe ra và biết cách áp dụng hay không mà thôi.
- Ông dự đoán khó khăn sẽ là dài hạn, vậy chiến lược của TASCO trong 7 – 10 năm tới là chỉ tồn tại được, nuôi sống được bộ máy hay còn có mục tiêu cao hơn, chẳng hạn hướng tới một TASCO giàu có chẳng hạn?
Làm ngành gì mà dẫn đầu thị trường, có nhiều khách hàng, doanh thu lớn, lợi nhuận cao thì sẽ giàu có thôi. Đã có thương hiệu, vươn đến số 1 số 2 hoặc ít nhất là top 5 thì mới dẫn dắt, làm chủ được thị trường. Đó cũng là điều chúng tôi hướng đến, với tình hình này nếu ai có nguồn lực để bứt phá thì sẽ rất dễ, vì thiên hạ yếu cả rồi, đây có thể coi là cơ hội vàng của TASCO nếu chúng tôi tồn tại và chắc chắn là chúng tôi sẽ tồn tại. Điều cần thiết là chúng tôi cần phải có một chiến lược đúng đắn, lâu dài. Điều quan trọng nhất là tất cả chúng tôi, từ nhân viên đến lãnh đạo cao nhất đều có mong muốn mãnh liệt đạt được điều đó.
- Chúc ông và TASCO sẽ sớm đạt được mục tiêu của mình.
Để khôi phục được như cũ, thị trường bất động sản phải cần đến 10 năm. Còn doanh nghiệp phải chịu đựng khó khăn thêm ít nhất cũng là 5 năm và nhiều là 7 năm.
- Cách đây không lâu, mọi người thấy bên cạnh tên gọi TASCO có nhận diện thương hiệu mới với dòng chữ TARIC, nghe thì có vẻ không liên quan lắm, tại sao vậy, thưa ông?
Có liên quan đấy, TARIC nghĩa là TASCO giàu có (rich). Thực ra, do chúng tôi chậm chân trong đăng ký bản quyền công nghệ cho thương hiệu TASCO nên cuối cùng phải đổi thành TARIC (cười).
- Cuộc khủng hoảng vừa qua rõ ràng gây ra những tổn thất không hề nhỏ, nhưng nhìn nhận ở góc độ khác, ông có nghĩ là Doanh nghiệp Việt cũng được điều gì đó sau cuộc khủng hoảng này không?
Cái được lớn nhất chính là bài học rút ra. Nhiều người cho rằng, thất bại, lỗi lầm cũng là tài sản. Tôi cũng đồng tình với quan điểm đó. Tài sản đó sẽ là bài học quý giá cho doanh nhân để biết cách kinh doanh tỉnh táo và thận trọng hơn. Rõ ràng là thời gian vừa qua, hầu hết các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cá nhân đều ít nhiều tham gia vào thị trường bất động sản và đều bị mất tiền. Đây cũng chính là lần đầu tiên chúng ta ứng phó với khủng hoảng thực sự của nền kinh tế thị trường nên chưa có kinh nghiệm. Sau một chu kỳ tăng trưởng nóng, lạm phát lên đến hai con số, vậy mà doanh nghiệp vẫn đổ xô đi mua dự án, đi đầu tư, đó là một sai lầm.
- Vậy trong lúc thiên hạ đổ xô đi đầu tư như thế, ông bị cuốn theo không ạ?
Tôi cũng như họ thôi, nhưng nhờ biết rút nhanh nên tổn thất đỡ nặng nề. Thực ra lúc ấy, những doanh nghiệp khôn là biết cách chuyển thật nhanh về tiền mặt.
- Vậy tức là ông cũng có kha khá "tài sản" rồi?
Đúng, thất bại đó là một khối tài sản lớn để đúc kết và rút ra bài học cho mình. Tự doanh nghiệp phải liệu được tình hình để chủ động chuyển hướng chứ nếu cứ trông chờ vào chính sách thì những lần sau sẽ lại tiếp tục mất tiền.
- Tôi thấy ông lúc nào cũng vui vẻ và nói chuyện rất hứng khởi. Bằng cách nào mà ông giữ được tâm thế bình thản trong bối cảnh khó khăn này?
Thất bại là tài sản, lỗi lầm cũng là tài sản. Tự doanh nghiệp phải liệu được tình hình để chủ động chuyển hướng chứ nếu cứ trông chờ vào chính sách thì những lần sau sẽ lại tiếp tục mất tiền
|
- Dạo này, thấy doanh nhân Phạm Quang Dũng xuất hiện trên nhiều diễn đàn với tư cách một diễn giả, có phải ông đang chuẩn bị làm thêm nghề diễn giả nữa?
Thực ra, trải qua nhiều thất bại và thành công, tôi cũng thu được một chút kinh nghiệm, kiến thức và muốn chia sẻ với mọi người để họ có thể rút ngắn quãng đường đi đến thành công, cũng như tránh được những cái sai mà tôi đã vấp phải. Vì tôi đã phải trả giá rất đắt từ việc chọn chiến lược ngành nghề, mô hình quản lý, quản trị nhân sự nên càng có nhiều điều để chia sẻ. Người ta bảo, nếu muốn thành công phải chơi với người thành công và chọn cho mình một người thầy. Ngày trước tôi không biết điều này nên cứ thế vấp ngã, để đời dạy mình thôi. Chia sẻ cũng mang lại cho mình những niềm hạnh phúc rất đặc biệt. Cho càng nhiều thì nhận được càng nhiều, tôi sẵn sàng chia sẻ, nhưng vấn đề là họ nghe ra và biết cách áp dụng hay không mà thôi.
- Ông dự đoán khó khăn sẽ là dài hạn, vậy chiến lược của TASCO trong 7 – 10 năm tới là chỉ tồn tại được, nuôi sống được bộ máy hay còn có mục tiêu cao hơn, chẳng hạn hướng tới một TASCO giàu có chẳng hạn?
Làm ngành gì mà dẫn đầu thị trường, có nhiều khách hàng, doanh thu lớn, lợi nhuận cao thì sẽ giàu có thôi. Đã có thương hiệu, vươn đến số 1 số 2 hoặc ít nhất là top 5 thì mới dẫn dắt, làm chủ được thị trường. Đó cũng là điều chúng tôi hướng đến, với tình hình này nếu ai có nguồn lực để bứt phá thì sẽ rất dễ, vì thiên hạ yếu cả rồi, đây có thể coi là cơ hội vàng của TASCO nếu chúng tôi tồn tại và chắc chắn là chúng tôi sẽ tồn tại. Điều cần thiết là chúng tôi cần phải có một chiến lược đúng đắn, lâu dài. Điều quan trọng nhất là tất cả chúng tôi, từ nhân viên đến lãnh đạo cao nhất đều có mong muốn mãnh liệt đạt được điều đó.
- Chúc ông và TASCO sẽ sớm đạt được mục tiêu của mình.
Quá trình kinh doanh:
* Từ những năm 1980, bắt đầu với việc kinh doanh vật tư và mua xe chở khách. Năm 1995, ông chuyển sang công tác tại Công ty Xây dựng huyện Hải Hậu.
* Năm 1997, ông làm Phó Tổng giám đốc Công trình Giao thông Nam Hà (tiền thân của TASCO) lúc doanh nghiệp đang đối diện với nguy cơ phá sản. Tiếp quản công ty, ông đã đưa doanh nghiệp đi qua giai đoạn khó khăn nhất.
* Năm 2000, TASCO chính thức Cổ phần hóa. Hiện là một trong những doanh nghiệp tư nhân thành công trong lĩnh vực xây lắp và bất động sản.
Năm 2010, cổ phiếu của Tasco (mã HUT) trở thành 1 trong 20 mã cổ phiếu bất động sản hấp dẫn nhất trên sàn chứng khoán HNX; doanh thu bán hàng đạt 751 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 90 tỷ đồng (cao gấp 5 lần năm 2009); lợi nhuận sau thuế đạt 74 tỷ đồng.
Bài: Nguyễn Thu
Ảnh: Long Nguyễn
Giá BĐS phải giảm thêm 30% mới xuống đáy và giảm 30% nữa để xuyên đáy rồi mới hồi phục.
Bất động sản (BĐS) đóng băng, nhiều căn hộ giảm giá hết đợt này đến đợt khác. Liệu khi buộc phải “phá giá” như vậy doanh nghiệp (DN) BĐS có lỗ? Hay bong bóng BĐS được thổi phồng lên quá mức nên khi xì hơi cỡ nào DN vẫn lãi?
Quý III, BĐS sẽ chạm đáy
. Ông nhận định như thế nào về thực trạng giá BĐS hiện nay?
+ TS Alan Phan, Chủ tịch Quỹ Đầu tư Viasa tại Hong Kong: Giá thị trường BĐS luôn dựa trên vấn đề thuận mua vừa bán. Suốt thời gian dài vừa qua, BĐS ở Việt Nam bị thổi lên cao hơn giá trị căn bản gấp nhiều lần. Khi áp suất trong bong bóng quá cao sẽ xảy ra tình trạng nổ hoặc xì hơi từ từ. Nhưng dù nổ hay xì hơi thì quả bóng này cũng phải trở về thực trạng của nó.
. Vậy giá nào thì BĐS về với thực tế?
+ Tính từ thời điểm này, tôi dự đoán BĐS phải xuống thêm 20%-30% nữa mới về đúng những yếu tố căn bản (cung cầu, khả năng của người mua và tâm lý chung). Đây là đáy bền vững. Tuy nhiên, vì BĐS chịu tác động bởi yếu tố “bầy đàn”, khi giá tăng thì tranh nhau mua vào, giá xuống thì ai cũng đợi xuống thêm. Thêm vào đó, nhiều nhà đầu tư đang kẹt vốn và các BĐS do ngân hàng tịch thu phải đem ra bán tháo. Từ đây sẽ tạo ra xu hướng đi xuống sâu hơn đáy. Theo kinh nghiệm về bong bóng BĐS ở các nước, sau khi xuống đáy thì phải cộng thêm 30% độ giảm vì sự xuyên đáy này. Như vậy sang quý II-2013 nó sẽ chạm đáy và hai năm tiếp sẽ xuyên đáy.
. Nhưng rất nhiều căn hộ đã giảm từ 30% thậm chí 40%-50% rồi vẫn không có người mua, thưa ông?
+ Điều đó cho thấy giá BĐS chưa trở về thực trạng. Trên thế giới, giá BĐS liên quan tới ba nhân tố chính: nhu cầu, thu nhập và tâm lý. Các yếu tố như địa điểm, lãi suất… cũng quan trọng.
Ở Việt Nam, nhu cầu trong phân khúc trung bình rất tốt vì còn nhiều người chưa có nhà. Tuy nhiên, mức cung đang quá cao, nếu các căn hộ cao cấp có thể giảm giá theo nhu cầu nhà trung bình thì cung cầu sẽ cân bằng.
Mặt khác, tại hai TP lớn là Hà Nội và TP.HCM, tổng thu nhập trung bình của một gia đình khoảng 180 triệu đồng/năm. Nếu mua nhà trả góp trong 20 năm với lãi suất 10%, khả năng họ trả được khoảng 30% trên tổng thu nhập (1 tỉ đồng). Do đó, tính ra giá họ có thể chấp nhận được là 14 triệu đồng/m2 cho một căn hộ 70 m2.
Yếu tố thứ ba, hiện môi trường kinh tế không mấy thuận lợi, niềm tin về thị trường không có. Khách hàng đang hoang mang và họ không biết trong tương lai có thể kiếm được bao nhiêu tiền trong khi lạm phát vẫn là một mối đe dọa lớn. Bởi thế, ngay cả khi giá thị trường về đáy nhưng khách hàng không có niềm tin và bi quan thì cũng khó bán.
. Hiện nay có căn giảm xuống 14 triệu đồng/m2 vẫn không có người mua, tại sao vậy?
+ Như đã nói, vì niềm tin còn thiếu nên khách hàng còn đợi. Thêm vào đó, với giá vàng gia tăng, giá của BĐS cao hơn thực tế nhiều. Tôi nghĩ giá BĐS phải xuyên đáy xuống 10 triệu đồng/m2 thì thị trường mới có thể phục hồi.
Một yếu tố khác là giá trị chung cư khác giá trị nhà mặt phố. Một phần lớn tạo ra giá trị gia tăng là vấn đề quản lý. Đây là lý do Phú Mỹ Hưng bán được các dự án với giá cao.
Làm gì còn tiền để đầu cơ
. Việc giảm giá mạnh như thế DN có bị lỗ, ví dụ mới đây một số căn hộ được cho là cao cấp ở quận 7 chỉ bán giá 19 triệu đồng/m2?
+ Các căn hộ dự án ven quận 7 giảm xuống 19-20 triệu đồng/m2 cũng chỉ là căn hộ trung bình chứ không phải loại cao cấp. Và nó phải xuống còn 13 triệu đồng + VAT +… thành 14 triệu đồng mới đúng.
Còn việc lỗ hay lãi phải tính các khoản phí. DN nào mua đất 5-7 năm trước thì không lỗ nhưng nếu mua khoảng 2-3 năm trở lại đây sẽ lỗ.
. Tại thời điểm giá BĐS đang tìm đáy này liệu có còn tình trạng đầu cơ?
+ Ở môi trường nào cũng có tình trạng đầu cơ. Nhưng các nhà đầu cơ trước đây nay cũng không còn tiền. Ngoài ra, người ta chỉ đầu cơ khi có bong bóng thổi phồng giá, còn khi bong bóng đang xì hơi thì nhanh chân mà tháo chạy.
. Vậy theo ông, DN BĐS phải làm gì trong lúc này?
+ Trừ khi có trường vốn có thể đợi hơn năm năm, DN nào đang đi vay để cầm cự phải bán cho nhanh chứ để lâu còn chết nữa. Ví như thiên hạ chạy khỏi rạp hát trong đám cháy, ai nhanh chân thì thoát, ai chậm sẽ bị đè lên.
. Sẽ ra sao nếu DN không thể chạy hoặc chạy không kịp?
+ Hiện giờ các DN BĐS gần như không được phép phá sản vì nợ ngân hàng, nợ khách hàng, nợ nhà xây dựng… thành thử họ đang cố bám trụ chứ không thể tự giải quyết các vấn đề này. Bởi vậy đến một lúc nào đó, quả bom này sẽ phải nổ tung thôi. DN nào không thể bám trụ, cứ để tự phá sản.
Có một giải pháp là Chính phủ quốc hữu hóa các căn hộ để trống rồi giao lại cho các chủ nợ. Ở Mỹ, khi DN phá sản thì tòa án làm chủ, sắp xếp với các chủ nợ để thanh lý. Thành phần tư nhân rất sáng tạo, họ có cách giải quyết êm đẹp dựa trên tinh thần dân chủ và quyền lợi hỗ tương từ nhiều phía.
. Bong bóng BĐS trên thế giới xì hơi như thế nào, thưa ông?
+ Ở Mỹ bong bóng bắt đầu xì hơi từ năm 2007, khi được 30%-40% nó về đáy của giá trị thực. Sau đó, BĐS xuyên đáy thêm 20% nữa, tổng cộng đến nay giảm được 60%. Có lẽ sang năm 2013 BĐS ở Mỹ mới bắt đầu phục hồi. So sánh Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác, giá căn hộ trung bình tại Malaysia và Thái Lan chỉ chừng 400-500 USD/m2 (tương đương 10 triệu đồng/m2).
. Xin cảm ơn ông.
Hai “quả bom” lớn trong năm 2013
Hiện nay có khoảng 120.000-180.000 căn hộ tồn kho và xây dở dang. Cứ cho là 100.000 căn hộ đã thu tiền đặt cọc, chừng 500 triệu đồng mỗi căn. Tính lại, tổng tiền nợ khách hàng của các DN BĐS chừng 50.000 tỉ đồng, tương đương 25 tỉ USD. Đây là số nợ khủng khiếp. Con số này có thể còn lớn hơn cả nợ xấu ngân hàng. Thế nên trong năm 2013, chúng ta sẽ phải đối mặt với hai “quả bom”: nợ xấu ngân hàng và nợ khách hàng của các DN BĐS.
YÊN TRANG
Theo PLTP
Theo quan sát của chúng tôi, đây là thời điểm đi lên của thị trường vì giá bất động sản đã rẻ đến mức thấp nhất trong mấy năm qua.
Nhận định trên được ông Phan Thành Mai, Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản Việt Nam đưa ra khi nói về diễn biến của thị trường bất động sản hiện nay cũng như “sức khỏe” của các chủ đầu tư sau một thời gian dài lâm trọng bệnh.
Trao đổi với VnEconomy, ông Mai nói.
- Hiện tại, theo báo cáo của nhiều doanh nghiệp bất động sản thì lợi nhuận của hầu hết các dự án đều âm, có nghĩa là cácđầu tư dự án hiện đã không có lợi nhuận, giá bán tại thời điểm này là thấp nhất.
Đây cũng là cơ hội tốt cho người tiêu dùng để có thể lựa chọn cho mình một sản phẩm vừa ý, hợp túi tiền. Chúng ta cũng có thể nhìn nhận niềm tin của thị trường sẽ sớm được cải thiện, thị trường sẽ có chiều hướng đi lên.
Cùng với đó, Chính phủ cũng đang nỗ lực để cải thiện tính thanh khoản cho thị trường bất động sản thể hiện bằng một số văn bản nới lỏng tín dụng đối với lĩnh vực này của Ngân hàng Nhà nước.
Trong thời gian qua, các doanh nghiệp bất động sản có các khoản vay và đều phải trả nợ đã làm cho sự giằng co giữa doanh nghiệp và ngân hàng thêm khó khăn. Nay chính sách đã gợi mở hơn, tạo điều kiện mở đường cho tái cấu trúc các khoản vay mới.
Đặc biệt, đối với các dự án không nhất thiết phải hoàn thành trong năm 2012 cũng được vay vốn đã tạo ra hai cơ hội cho cả cung và cầu đều được kích thích.
* Nhưng một số ý kiến cho rằng, việc tiếp sức cho các doanh nghiệp bằng cách bơm vốn cho chủ đầu tư cũng chưa hẳn đã là một giải pháp hữu hiệu vì niềm tin của người tiêu dùng đối với thị trường vẫn chưa thực sự cải thiện nhiều?
Đúng vậy, nếu muốn thúc đẩy thị trường phát triển và ổn định thì cần chú trọng thúc đẩy nguồn cầu.
Do đó, ngoài vấn đề tiếp sức về vốn cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý cần sớm đưa vào thí điểm mô hình Quỹ tiết kiệm cho vay nhà ở. Cùng với đó phải giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng từ 2011 như nghiên cứu, sửa đổi quy định về nộp thuế thu nhập cá nhân trong giao dịch bất động sản, ban hành quy định cho phép xây dựng nhà ở thương mại có diện tích nhỏ, tiếp tục nghiên cứu để nới các quy định cho phép người nước ngoài được phép mua nhà ở tại Việt Nam...
Ngoài ra, nhà nước cũng cần sớm áp dụng mô hình đăng ký quyền sử dụng đất một cấp trực thuộc sở tài nguyên và môi trường tại Hà Nội và Tp.HCM, tăng cường thông tin đối với tất cả các lĩnh vực liên quan đến bất động sản, từ đó tạo sự minh bạch công khai trên thị trường, hệ thống thuế, xác định giá đất... thì niềm tin của khách hàng sẽ cải thiện đáng kể.
* Theo quan sát của các chuyên gia, khá nhiều tập đoàn, doanh nghiệp bất động sản lớn vẫn đứng vững trong khó khăn hiện nay. Chỉ có các doanh nghiệp tầm trung là ngoắc ngoải. Theo ông, làm sao để cứu số doanh nghiệp này?
Đối với các doanh nghiệp bất động sản vừa và nhỏ, trong thời gian qua là khó khăn nhưng cũng là bài học về chiến lược, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro... cũng như phân tích dự án đầu tư.
Chúng ta không nên đầu tư vào quá nhiều dự án không đúng với nhu cầu của thị trường. Thay vào đó phải cơ cấu lại, xác định thị phần của mình đúng đắn sẽ giải được bài toán đầu ra vì thực tế nhu cầu nhà ở có diện tích nhỏ, vừa túi tiền của người dân vẫn còn lớn lắm.
* Vừa qua, cơ quan quản lý có tính đến giải pháp chia nhỏ căn hộ để cứu các doanh nghiệp đã trót đầu tư sai nhu cầu thị trường như ông nói. Ông có ủng hộ giải pháp này không?
Trên thế giới, căn hộ thường chỉ 40 -50 m2, trong khi chúng ta quy định căn hộ thương mại thường phải từ 70m2, điều đó đã khiến cho sức mua của lượng cầu giảm đáng kể, do khách hàng phải có lượng tiền rất lớn mới mua được.
Tuy nhiên, nếu chúng ta chia nhỏ căn hộ thì áp lực về hạ tầng xã hội, giao thông trong các nội đô sẽ tăng cao. Do đó, hiện tại các địa phương chưa ủng hộ quan điểm này, dù theo một số cơ quan quản lý thì đây là giải pháp giúp cải thiện tính thanh khoản của thị trường trong thời gian tới.
* Theo ông, ngoài những giải pháp về tín dụng ngân hàng, có cách nào để giúp doanh nghiệp bất động sản thoát khỏi khó khăn hiện nay?
Trong thời gian qua, các doanh nghiệp bất động sản thường sử dụng nguồn vốn huy động trước từ khách hàng, tín dụng ngân hàng. Các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có thể huy động được từ thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp lớn, uy tín và lành mạnh có thể huy động vốn qua việc phát hành trái phiếu có bảo lãnh ngân hàng và thậm chí phát hành trên thị trường quốc tế.
Cũng trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến thị trường mua bán sáp nhập (M&A) phát triển mạnh mẽ thông qua sàn chứng khoán và trực tiếp với các doanh nghiệp lành mạnh, có các dự án pháp lý chặt chẽ và hiệu quả đầu tư tốt. Đây chính là những giải pháp hữu hiệu giúp thị trường sôi động và phát triển ổn định hơn.
Bộ Xây dựng cũng đang trình Chính phủ về mô hình quỹ phát triển nhà ở và quỹ tiết kiệm cho vay nhà ở. Đây là những mô hình huy động nguồn vốn nhàn rỗi tập trung thúc đẩy nguồn cầu của thị trường, những người thực sự có nhu cầu sử dụng nhà ở.
Ngoài ra, các mô hình thành công cho tài chính trung và dài hạn bất động sản như quỹ tín thác bất động sản, quỹ tái thế chấp bất động sản… là những mô hình có thể nghiên cứu trong tương lai.
![]() |
| Ông Phan Thành Mai, Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản Việt Nam |
Trao đổi với VnEconomy, ông Mai nói.
- Hiện tại, theo báo cáo của nhiều doanh nghiệp bất động sản thì lợi nhuận của hầu hết các dự án đều âm, có nghĩa là cácđầu tư dự án hiện đã không có lợi nhuận, giá bán tại thời điểm này là thấp nhất.
Đây cũng là cơ hội tốt cho người tiêu dùng để có thể lựa chọn cho mình một sản phẩm vừa ý, hợp túi tiền. Chúng ta cũng có thể nhìn nhận niềm tin của thị trường sẽ sớm được cải thiện, thị trường sẽ có chiều hướng đi lên.
Cùng với đó, Chính phủ cũng đang nỗ lực để cải thiện tính thanh khoản cho thị trường bất động sản thể hiện bằng một số văn bản nới lỏng tín dụng đối với lĩnh vực này của Ngân hàng Nhà nước.
Trong thời gian qua, các doanh nghiệp bất động sản có các khoản vay và đều phải trả nợ đã làm cho sự giằng co giữa doanh nghiệp và ngân hàng thêm khó khăn. Nay chính sách đã gợi mở hơn, tạo điều kiện mở đường cho tái cấu trúc các khoản vay mới.
Đặc biệt, đối với các dự án không nhất thiết phải hoàn thành trong năm 2012 cũng được vay vốn đã tạo ra hai cơ hội cho cả cung và cầu đều được kích thích.
* Nhưng một số ý kiến cho rằng, việc tiếp sức cho các doanh nghiệp bằng cách bơm vốn cho chủ đầu tư cũng chưa hẳn đã là một giải pháp hữu hiệu vì niềm tin của người tiêu dùng đối với thị trường vẫn chưa thực sự cải thiện nhiều?
Đúng vậy, nếu muốn thúc đẩy thị trường phát triển và ổn định thì cần chú trọng thúc đẩy nguồn cầu.
Do đó, ngoài vấn đề tiếp sức về vốn cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý cần sớm đưa vào thí điểm mô hình Quỹ tiết kiệm cho vay nhà ở. Cùng với đó phải giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng từ 2011 như nghiên cứu, sửa đổi quy định về nộp thuế thu nhập cá nhân trong giao dịch bất động sản, ban hành quy định cho phép xây dựng nhà ở thương mại có diện tích nhỏ, tiếp tục nghiên cứu để nới các quy định cho phép người nước ngoài được phép mua nhà ở tại Việt Nam...
Ngoài ra, nhà nước cũng cần sớm áp dụng mô hình đăng ký quyền sử dụng đất một cấp trực thuộc sở tài nguyên và môi trường tại Hà Nội và Tp.HCM, tăng cường thông tin đối với tất cả các lĩnh vực liên quan đến bất động sản, từ đó tạo sự minh bạch công khai trên thị trường, hệ thống thuế, xác định giá đất... thì niềm tin của khách hàng sẽ cải thiện đáng kể.
* Theo quan sát của các chuyên gia, khá nhiều tập đoàn, doanh nghiệp bất động sản lớn vẫn đứng vững trong khó khăn hiện nay. Chỉ có các doanh nghiệp tầm trung là ngoắc ngoải. Theo ông, làm sao để cứu số doanh nghiệp này?
Đối với các doanh nghiệp bất động sản vừa và nhỏ, trong thời gian qua là khó khăn nhưng cũng là bài học về chiến lược, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro... cũng như phân tích dự án đầu tư.
Chúng ta không nên đầu tư vào quá nhiều dự án không đúng với nhu cầu của thị trường. Thay vào đó phải cơ cấu lại, xác định thị phần của mình đúng đắn sẽ giải được bài toán đầu ra vì thực tế nhu cầu nhà ở có diện tích nhỏ, vừa túi tiền của người dân vẫn còn lớn lắm.
* Vừa qua, cơ quan quản lý có tính đến giải pháp chia nhỏ căn hộ để cứu các doanh nghiệp đã trót đầu tư sai nhu cầu thị trường như ông nói. Ông có ủng hộ giải pháp này không?
Trên thế giới, căn hộ thường chỉ 40 -50 m2, trong khi chúng ta quy định căn hộ thương mại thường phải từ 70m2, điều đó đã khiến cho sức mua của lượng cầu giảm đáng kể, do khách hàng phải có lượng tiền rất lớn mới mua được.
Tuy nhiên, nếu chúng ta chia nhỏ căn hộ thì áp lực về hạ tầng xã hội, giao thông trong các nội đô sẽ tăng cao. Do đó, hiện tại các địa phương chưa ủng hộ quan điểm này, dù theo một số cơ quan quản lý thì đây là giải pháp giúp cải thiện tính thanh khoản của thị trường trong thời gian tới.
* Theo ông, ngoài những giải pháp về tín dụng ngân hàng, có cách nào để giúp doanh nghiệp bất động sản thoát khỏi khó khăn hiện nay?
Trong thời gian qua, các doanh nghiệp bất động sản thường sử dụng nguồn vốn huy động trước từ khách hàng, tín dụng ngân hàng. Các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có thể huy động được từ thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp lớn, uy tín và lành mạnh có thể huy động vốn qua việc phát hành trái phiếu có bảo lãnh ngân hàng và thậm chí phát hành trên thị trường quốc tế.
Cũng trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến thị trường mua bán sáp nhập (M&A) phát triển mạnh mẽ thông qua sàn chứng khoán và trực tiếp với các doanh nghiệp lành mạnh, có các dự án pháp lý chặt chẽ và hiệu quả đầu tư tốt. Đây chính là những giải pháp hữu hiệu giúp thị trường sôi động và phát triển ổn định hơn.
Bộ Xây dựng cũng đang trình Chính phủ về mô hình quỹ phát triển nhà ở và quỹ tiết kiệm cho vay nhà ở. Đây là những mô hình huy động nguồn vốn nhàn rỗi tập trung thúc đẩy nguồn cầu của thị trường, những người thực sự có nhu cầu sử dụng nhà ở.
Ngoài ra, các mô hình thành công cho tài chính trung và dài hạn bất động sản như quỹ tín thác bất động sản, quỹ tái thế chấp bất động sản… là những mô hình có thể nghiên cứu trong tương lai.
Theo VnEconomy










